Hoa và Trà
Tôi nhớ, từ “ikebana” đã từng ám ảnh tôi khi viết bài tường thuật về cuộc tuyệt thực của các bà vợ những người thợ mỏ đã thiệt mạng trong hầm mỏ, tại địa điểm xảy ra thảm họa dưới lòng đất. Công đoàn Thợ mỏ Miike nổi tiếng ở Nhật Bản với truyền thống đấu tranh, và một phần đáng kể vinh quang của nó thuộc về những người phụ nữ thuộc Liên hiệp Gia đình Mồ côi. Chính những nữ thợ mỏ này, ngày này qua ngày khác đình công trong hầm mỏ, nơi đã trở thành mồ chôn chồng họ, đã gây chấn động nước Nhật với lòng dũng cảm của mình. Sau khi tôi đến thăm địa điểm đình công, những người phụ nữ đã mời tôi đến văn phòng công đoàn.
– Chứ ai lại nói chuyện ở chỗ tối này!
Chúng tôi đến gần một doanh trại đổ nát, trên đó có một lá cờ đỏ biểu tình đang tung bay. Tôi biết đây là nơi những người phụ nữ đang nghỉ ngơi sau ba ngày tuyệt thực dưới hầm mỏ. Nhưng liệu tôi có thể tưởng tượng được rằng mình sẽ thấy họ đang học nghệ thuật cắm hoa? Trong văn phòng phủ kín khẩu hiệu, vào lúc cao điểm của cuộc đình công, một lớp học cắm hoa ikebana định kỳ đang diễn ra theo.
– Chúng tôi tự hào về câu lạc bộ của mình, – các nhà hoạt động nữ nói với tôi. – Nó đã giúp chúng tôi đối mặt với nỗi đau như một gia đình đoàn kết. Chính những lớp học ikebana đã lần đầu tiên gắn kết những nữ thợ mỏ địa phương lại với nhau.
Tôi thực sự muốn mô tả cảnh này, nhưng không tìm được lý do gì để đưa nó vào bài của mình. Hoa thì liên quan gì đến đình công? Nhưng việc nhắc đến hội nhóm ikebana thì rất đáng. Suy cho cùng, việc tìm thấy vẻ đẹp trong sự kết hợp giữa hoa tulip và cành thông, để rút ra từ chúng không chỉ niềm vui mà còn cả sức mạnh, là một nét đặc trưng của người Nhật.
Hoặc đây là một ví dụ từ một lĩnh vực hoàn toàn khác của cuộc sống. Người Nhật chế giễu thói quen của người Mỹ đánh giá địa vị xã hội của một người dựa trên thu nhập của họ. Tuy nhiên, đôi khi ngay cả tiêu chí này cũng có thể nói lên điều gì đó. Không có gì ngạc nhiên khi người có thu nhập cao nhất ở Nhật Bản, người đóng thuế nhiều nhất trong nhiều năm, là Konosuke Matsushita, người đứng đầu công ty National, hay Panasonic – người mà tên tuổi gắn liền với quá trình điện khí hóa cuộc sống của người Nhật sau chiến tranh. Nhưng nếu chúng ta nhìn xa hơn khỏi giới doanh nhân, chính trị gia, nhà công nghiệp và thương gia, và hướng đến những người được gọi là “lao động tự do”, thì hóa ra những người được trả cao nhất trong lĩnh vực này là các nghệ nhân cắm hoa. Họ thậm chí còn vượt các ngôi sao điện ảnh và cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp nổi tiếng, chưa kể đến các nhà văn, nghệ sĩ và nhạc sĩ.
Nhiều lần đứng đầu danh sách những người đóng thuế trong giới lao động tự do là Sofu Teshigahara, người sáng lập một hướng mới trong nghệ thuật ikebana. Trường phái mà ông sáng lập, Sogetsu (“Cỏ và Trăng”), có khoảng một triệu tín đồ và hàng trăm nhóm trên khắp Nhật Bản. Nửa đùa nửa thật, người Nhật nói rằng một người như Teshigahara có sức ảnh hưởng ngang ngửa với lãnh đạo của một đảng chính trị, bởi vì ông có thể dễ dàng đưa các thành viên của mình vào quốc hội và, chắc hẳn, cũng sẽ thu thập đủ số phiếu để có vào đó.
Ở trung tâm Tokyo, có một tòa nhà do kiến trúc sư Kenzo Tange thiết kế. Đây là trụ sở của Trường Sogetsu. Những phong bì có viền xanh lá cây – tiền chuyển khoản – được gửi đến đây từ khắp nơi trên đất nước. Thật khó để tìm thấy một thành phố nào ở Nhật Bản mà không có câu lạc bộ trường phái Sogetsu. Một phụ nữ Nhật Bản thường học hai năm ở đó, và gửi một phần ba học phí cho chính Teshigahara mỗi học kỳ.
Tôi đã có cơ hội trò chuyện với người sáng lập trường phái “Cỏ và Trăng” về nền tảng triết học trong công việc của ông. Theo Teshigahara, Ikebana là một hình thức nghệ thuật độc lập. Có lẽ gần gũi nhất với nó là điêu khắc. Nghệ sĩ điêu khắc tạo hình từ đá cẩm thạch, đất sét và gỗ. Trong trường hợp này, nghệ sĩ cầm hoa và cành cây.
Mục đích của ikebana là thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên thông qua nghệ thuật cắm hoa. Nhưng ikebana cũng là một phương tiện thể hiện bản thân. Ngay cả khi sử dụng cùng một chất liệu, những người khác nhau có thể truyền tải những tâm trạng khác nhau vào đó. Một bậc thầy ikebana thực thụ không thể hài lòng với vẻ đẹp bề ngoài của hoa. Họ nỗ lực để khiến chúng nói bằng một ngôn ngữ mà mọi người đều hiểu.
Khi một học viên thành thạo các kỹ thuật ikebana thông qua việc bắt chước giáo viên, họ sẽ có thể thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của riêng mình trong loại hình nghệ thuật này. Ikebana cũng giống như điêu khắc, Teshigahara nhắc lại. Khi một nhà điêu khắc muốn khắc một khuôn mặt người từ một khối đá cẩm thạch, anh ta phải loại bỏ mọi thứ không phải là khuôn mặt khỏi khối đá. Điêu khắc như vậy có thể được gọi là trừ đi, điêu khắc với dấu trừ. Ngược lại, Ikebana giống như điêu khắc với dấu cộng, hoặc điêu khắc cộng. Điểm khởi đầu ở đây là một khoảng trống, mà người thực hiện bắt đầu lấp đầy, thấm đẫm các thành phần của cái đẹp.
Thuật ngữ “ikebana” trong tiếng Nhật vẫn còn khó dịch chính xác ra các ngôn ngữ nước ngoài. Cách diễn đạt phương Tây “cắm hoa”, cũng như thuật ngữ tiếng Nga “nghệ thuật cắm hoa”, không nắm bắt được bản chất của ikebana. Đôi khi các ký tự tượng hình “ikebana” được dịch theo nghĩa đen là “hoa sống” hoặc “hoa mà đang sống”. Tuy nhiên, định nghĩa này không đầy đủ. Âm tiết đầu tiên, “ike”, không chỉ có nghĩa là “sống”, mà còn là một dạng của động từ “hồi sinh” hoặc “hiển lộ”, trái ngược với động từ “ức chế”. Do đó, cụm từ “ikebana” có thể được dịch là “giúp hoa thể hiện bản thân”.
Có một câu chuyện ngụ ngôn về bậc thầy trà đạo Rikyu, người có khu vườn nổi tiếng khắp Nhật Bản với những bông hoa của dây tơ hồng (đúng ra là hoa bìm bìm tím – ND). Ngay cả chính shogun Hideyoshi cũng quyết định ngắm nhìn chúng. Tuy nhiên, khi đến khu vườn vào buổi sáng đã định, ông ngạc nhiên khi thấy tất cả hoa đã bị cắt cụt. Bắt đầu nổi giận, vị lãnh chúa bước vào phòng trà đạo và nhìn thấy một bình hoa ikebana được cắm từ một cành tơ hồng duy nhất. Rikyu đã hy sinh tất cả các bông hoa trong vườn của mình để làm nổi bật vẻ đẹp của chúng trong một bông hoa tuyệt đẹp nhất. Câu chuyện ngụ ngôn này được kể cho mọi học viên Nhật Bản trong buổi học ikebana đầu tiên của họ. Họ được dạy rằng biểu hiện là tiết chế; rằng mặc dù ikebana nói chung là một tác phẩm điêu khắc mang dấu hiệu tích cực, nhưng từ mỗi nhánh riêng lẻ có lá và hoa, người ta phải loại bỏ một cách tàn nhẫn tất cả các yếu tố không cần thiết, giống như một nhà điêu khắc đục bỏ mọi thứ không phải là khuôn mặt khỏi một khối đá cẩm thạch.
Ikebana là một loại hình nghệ thuật được tạo ra bởi một quốc gia trong nhiều thế kỷ đã nuôi dưỡng khả năng đón nhận thiên nhiên như một kho báu của cái đẹp. Nghệ thuật ikebana được mọi người yêu thích chính bởi tính phổ cập của nó, bởi cách nó giúp con người cảm thấy giàu có về mặt tinh thần ngay cả trong cảnh nghèo khó.
Tôi nhớ một nhà báo nước ngoài tại Câu lạc bộ Báo chí Tokyo đã nói đùa về lần đầu tiên anh tiếp xúc với trà đạo:
– Hãy tưởng tượng một người thợ cắt tóc và ba hoặc bốn người khác đang chờ được cạo râu, ngồi trên sàn của một căn phòng hoàn toàn trống trải, ánh sáng lờ mờ. Hành động của người thợ cắt tóc giống như bình thường: anh ta đổ bột cạo râu vào cốc, đổ nước sôi lên trên và dùng chổi đánh bọt. Anh ta làm tất cả những điều này như thể mình là một vị đại sư đang thực hiện một nghi lễ tôn giáo. Còn mọi người đều im lặng theo dõi nghi lễ thiêng liêng này. Trong tưởng tượng, bạn hãy thay thế bột xà phòng bằng trà xanh nghiền thành bột, được đánh bằng chổi tre rất giống chổi cạo râu, thì bạn sẽ hình dung được toàn cảnh về phép màu Nhật Bản này…
Đối với một du khách nước ngoài, trà đạo thực sự chẳng khác gì một bữa tiệc trà dài lê thê với một nghi thức khó hiểu. Nhưng nghi thức trà đạo cũng là chìa khóa để hiểu được tâm lý dân tộc, không kém phần quan trọng so với bushido – tinh thần võ sĩ đạo, được phương Tây nhắc đến rất nhiều. Người Nhật hiểu câu nói “biết sống” theo cách khác. Theo họ, một người biết sống sẽ nhìn thấy niềm vui cuộc sống khi người khác bỏ qua. Trà đạo dạy chúng ta tìm thấy vẻ đẹp trong những điều bình dị. Đó là sự kết hợp giữa nghệ thuật và đời thường.
Nếu những đam mê mãnh liệt trong tâm hồn con người khơi dậy những cử chỉ nhất định, thì theo bậc thầy trà đạo, cũng có những cử chỉ có thể tác động đến tâm hồn và xoa dịu nó. Với những động tác được định hình nghiêm ngặt, vẻ đẹp và nhịp điệu đều đặn, trà đạo tạo ra sự bình an trong tâm hồn, đưa tâm hồn đến trạng thái đặc biệt nhạy cảm với vẻ đẹp hiện hữu khắp nơi của thiên nhiên.
Không quá năm người tham gia một buổi trà đạo. Ngay cả khi diễn ra vào ban ngày, căn phòng cũng nên được giữ trong bóng tối mờ ảo. Mỗi vật dụng đều mang dấu ấn của thời gian. Chỉ có hai ngoại lệ: một chiếc khăn tay vải lanh trắng muốt và một chiếc muôi làm từ một khúc tre cắt khúc, trông rất mới mẻ và tươi tắn.
Phòng trà đạo được trang trí với sự giản dị tinh tế, thể hiện quan niệm cổ điển của người Nhật về cái đẹp. Sự giản dị, hay thậm chí là nghèo nàn này, thường là chủ nhân đã phải mua rất đắt, bởi vì một khúc gỗ chắc khỏe có thể được làm từ một loại gỗ rất hiếm và hơn nữa, nó có giá trị đặc biệt nhờ giá trị nghệ thuật của nó.
Không chỉ hầu hết phụ nữ Nhật Bản, mà nhiều nam giới cũng vậy, vẫn nghiên cứu từng động tác của trà đạo. Ảnh hưởng của nó được cảm nhận trong nhiều lĩnh vực của văn hóa Nhật Bản. Chính tại đây, các khái niệm như “wabi”, “sabi” và “shibui” đã ra đời. Nghệ thuật ikebana cũng bắt nguồn từ trà đạo. Gốm sứ Nhật Bản sẽ không bao giờ đạt đến đỉnh cao như vậy nếu không có nghi thức này, vốn cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến nghi thức xã giao của người Nhật.
Cầu nối giữa nghệ thuật và thiên nhiên, cũng như cầu nối giữa nghệ thuật và cuộc sống thường nhật, là những đặc điểm chính của văn hóa Nhật Bản. Ở đất nước này, chưa bao giờ có sự phân chia giữa nghệ thuật thuần túy và nghệ thuật ứng dụng. Người Nhật quen với việc đánh đồng cái đẹp với tính thực tiễn, và mọi vật dụng trong nhà họ đều kết hợp giữa cái đẹp và tính thực tiễn.
Các nhà sử học nghệ thuật phương Tây có câu nói rằng văn hóa Nhật Bản là một nền văn minh của những điều nhỏ nhặt. Có lẽ đúng là người Nhật Bản xuất sắc trong những chi tiết thực tiễn hơn là những ý tưởng trừu tượng, rộng lớn. Trong tiếng Nhật, có một thuật ngữ “masse bummei” – “nền văn minh lá thông” (ám chỉ khả năng tận hưởng vẻ đẹp của một lá thông, thay vì cố gắng thu trọn cả khu rừng bằng ánh mắt).
Người Nhật thường nói rằng du khách nước ngoài thích cái đẹp trong những suất lớn. Vẻ đẹp của một giọt sương thôi là chưa đủ với họ – họ cần những phòng trưng bày tranh và cung điện đầy ắp tác phẩm điêu khắc. Người Nhật không thích thưởng thức nghệ thuật một cách vội vã, họ chỉ coi nó là một phần của cuộc sống thường nhật. Trà đạo, nghệ thuật cắm hoa ikebana, thơ ca và sự trân trọng thiên nhiên – tất cả những điều này được gọi chung là “furyu” (phong lưu), có thể được dịch thành một thuật ngữ hơi lỗi thời là “thư giãn tao nhã”. Giống như người Anh, người Nhật dành thời gian rảnh rỗi cho một hobby, và cũng như ở Anh, sở thích này thường liên quan đến thiên nhiên hoặc nghệ thuật.
Những người Nhật đã đến Hoa Kỳ đều ngạc nhiên rằng ngay cả trong số những người giàu có, rất ít người có khuynh hướng hoặc sở thích nghệ thuật. Người Nhật, đặc biệt là ở độ tuổi xế chiều, là những người làm vườn hoa đầy nhiệt huyết, họa sĩ nghiệp dư và nhà sưu tập. Phong lưu không phải là đặc quyền chỉ của những nhà mỹ học hay của một số ít người giàu.
Gu nghệ thuật ở Nhật Bản khá hòa hợp với sự nghèo đói. Điều này trước hết là do nghệ thuật chưa bao giờ được phân chia thành nghệ thuật thuần túy và nghệ thuật ứng dụng, từ đó dẫn đến những yêu cầu nghệ thuật cao đối với tất cả các vật dụng gia đình mà không có ngoại lệ; thứ hai, do sự kiểm soát chặt chẽ cuộc sống hàng ngày, vốn đã đạt đến mức độ đáng kinh ngạc ở Nhật Bản thời phong kiến.
Một người nông dân thu hoạch được một trăm bao lúa mỗi năm có thể xây một ngôi nhà không quá sáu mươi feet (khoảng 18 mét) và lợp mái bằng tranh, nhưng không được lợp ngói. Anh ta bị cấm ăn lúa do chính mình trồng, cũng giống như một người nông dân nuôi tằm bị cấm mặc lụa. Đất sét để làm bát đĩa, giấy dán cửa sổ, lược cài tóc cho vợ – tất cả đều được chính quyền quy định và hợp pháp hóa. Chính trong thời đại của những quy định gia đình nghiêm ngặt, những vật dụng đơn giản nhất, chẳng hạn như ấm trà gang, đèn lồng giấy, hay màn sáo tre, đã có được một nét quyến rũ độc đáo mà các sản phẩm phương Tây giá rẻ, sản xuất hàng loạt không có.
Khi nghe câu nói “khẩu vị mỗi người mỗi khác”, người Nhật sẽ dễ dàng đồng ý, mặc dù họ gắn cho những từ này một ý nghĩa hoàn toàn khác với chúng ta. Ở Nhật Bản, thị hiếu khác nhau, không phải vì mỗi người đều có gu riêng, mà bởi vì gu thẩm mỹ tốt đã trở thành một quy luật bất thành văn. Trong quá trình vun đắp và phát triển cảm quan về cái đẹp, người Nhật đồng thời cũng xác định rõ ràng ranh giới của mình. Và ở đây, gu thẩm mỹ tinh tế chỉ có thể đi vào chiều sâu, thay vì ham muốn bị cấm đoán là mở rộng và vượt qua những ranh giới này. Sau khi thiết lập gu thẩm mỹ bằng sắc lệnh trong xã hội, người Nhật từ lâu đã tìm cách mở rộng khái niệm về cái đẹp và sự hài hòa của họ sang lĩnh vực quan hệ con người.
Thành ngữ “hành động xấu xí” đã có được ý nghĩa ban đầu của nó ở Nhật Bản.
Người ngoại quốc, với sự tự mãn, xem trà đạo chỉ là một ví dụ khác trong hàng ngàn điều kỳ quặc tạo nên sự khó hiểu và ngây ngô của phương Đông. Trước khi cười nhạo nghi thức này, hãy nghĩ xem chén niềm vui của con người nhỏ bé đến nhường nào, và những người biết cách rót đầy nó mới là những người khôn ngoan đến nhường nào. Đối với người Nhật, trà đạo là một tôn giáo. Nó là sự thần thánh hóa nghệ thuật sống.
Kikuzō Okakura (Nhật Bản). Trà thư. 1906
Chúng tôi được dặn trước rằng việc nói chuyện trong buổi lễ không được khuyến khích, và chỉ sau ngụm trà cuối cùng, chúng tôi mới có thể, và thậm chí còn được khuyến khích, hỏi bộ ấm trà đến từ đâu, được làm từ bao giờ, ai là người làm ra nó, và khen những chiếc tách, cây cọ và chất lượng trà…
Chẳng mấy chốc, mắt tôi đã quen với ánh sáng mờ ảo, và tôi nhận ra căn phòng không có bất kỳ đồ trang trí nào và phản ánh đầy đủ khái niệm triết học Phật giáo về “tánh không”, đỉnh cao của nó là một bông hoa huệ núi nhỏ bé, nhợt nhạt đứng trong tokonoma, và vài chiếc lá được vẽ bằng mực trên một cuộn giấy treo phía trên bông hoa. Tôi cũng nghe thấy tiếng nước sôi đều đều trong ấm, giống như tiếng mưa rơi trên rơm rạ trên một túp lều nhỏ trên núi. Tôi cảm thấy sự im lặng này, tiếng nước sôi, sự nhỏ bé của căn phòng tồi tàn, và sự khiêm tốn của bông huệ – tất cả những điều này là một màn trình diễn, hay đúng hơn, một vở kịch, mà tôi đang tham gia và, với tư cách là một nhà văn, tôi phải bằng cách nào đó định nghĩa.
Và từ duy nhất tôi có thể tìm thấy là “cô lập”. Không phải ngẫu nhiên mà con đường che khuất dấu vết của tôi, không phải ngẫu nhiên mà khu rừng ảo ảnh bao quanh tôi, không phải ngẫu nhiên mà ký hiệu tượng hình “ẩn náu” được vẽ ra, không phải ngẫu nhiên mà ở đây chẳng có vật gì thu hút sự chú ý của tôi ngoài bông hoa nhạt màu và những chiếc lá xám trên giấy. Cô lập! Tất cả những người có mặt đều cam kết không xúc phạm lẫn nhau, tin tưởng lẫn nhau, và giờ đây mỗi người đều có thể tạm rời xa chính mình: một người lính thoát khỏi sự sẵn sàng hy sinh, một doanh nhân thoát khỏi nỗi lo lắng về tiền bạc, và một người thoát khỏi tất cả mọi người.
Boris Agapov (Nga). Ký ức về Nhật Bản. 1974
Sinh ra ở một đất nước trù phú với những yếu tố thiên nhiên khơi gợi cảm hứng sáng tác thơ ca và hình thành nên một tâm hồn nhạy cảm – cụ thể là núi non, biển cả và chu kỳ chính xác của bốn mùa – người Nhật đã hoàn thiện phương pháp chắt lọc vẻ đẹp từ những nguồn tài nguyên phong phú này đến mức chúng ta chưa từng biết đến. Phong tục chiêm ngưỡng cây cối nở hoa, tuyết rơi, hay trăng tròn hé lộ một số đặc điểm chính của gu thẩm mỹ Nhật Bản. Nhìn chung, gu thẩm mỹ này mang tính khắc khổ hơn là phóng túng, mang tính tập thể hơn là cá nhân, và hơn nữa, rất kén chọn. Vì gu thẩm mỹ ở Nhật Bản là vấn đề tiêu dùng công cộng, nên nó không bao giờ mang tính cá nhân. Do đó, những ví dụ về cái đẹp mang tính quy luật.
Bernard Rudofsky (Hoa Kỳ). Thế giới Kimono. 1966
Qua nhiều thế kỷ, người Nhật đã trở thành những người tiếp cận cuộc sống chủ yếu như những nghệ sĩ, những người theo chủ nghĩa duy mỹ. Họ không phải là những người sống theo nguyên tắc. Quy luật cơ bản trong đời sống xã hội và cá nhân của họ không chỉ là đạo đức, tôn giáo hay chính trị, mà còn là những chuẩn mực về cái đẹp. “Giải thích về thẩm mỹ Nhật Bản” – đó sẽ là một tựa đề hay cho một cuốn sách nên được viết vào một ngày nào đó.
Robert Guillain (Pháp). Nhật Bản. 1961
Xem tiếp phần 8: Geisha trong bộ Kimono.
Pingback: Cây anh đào và cây sồi (phần 6) - Phan Phuong Dat