Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội bán dẫn như thế nào?

Bán dẫn đang là một chủ đề siêu hot ở Việt Nam hiện nay. Nhiều ý kiến cho rằng Việt nam có một cơ hội to lớn để phát triển kinh tế, phát triển công nghệ, bắt kịp với các nước phát triển. Nhưng ít người biết rằng Việt nam đã bỏ lỡ một cơ hội như thế trong quá khứ. Việc ôn lại quá khứ là cần thiết để học bài học cho hiện tại.

Màu quân phục trong giảng đường vi điện tử Đại học Bách khoa HN

Vào một ngày cuối năm 1975, khi Oscar Memelink, giáo sư ngành vi điện tử (micro-electronics) thuộc trường Đại học Kỹ thuật Twente của Hà Lan kiêm Trưởng dự án xây dựng Phòng Thí nghiệm Vi điện tử cho Việt Nam đang giảng bài ở Đại học Bách khoa Hà nội, thì thấp thoáng những bóng người Việt mặc quân phục đi vào giảng đường chật ních để nghe.  Vốn là một người theo đuổi chủ nghĩa hòa bình, lúc nghỉ giải lao, GS Memelink đã lên tiếng phản đối sự hiện diện của quân đội trong giảng đường. Tuy sau giải lao không còn thấy màu áo xanh lục nữa, nhưng trong ông đã dấy lên một mối nghi ngờ…

Có thể đây là nguyên nhân đầu tiên trong chuỗi sự cố dẫn đến việc Memelink sẽ chấm dứt dự án giúp Việt Nam xây dựng Phòng thí nghiệm Vi điện tử vào năm 1978. Nếu biết rằng Memelink có quan hệ mật thiết với hãng Philips, và đến năm 1984 thì Philips và một công ty nữa đã thành lập nên ASML trứ danh, đang nổi như cồn sánh ngang Nvidia, thì có thể thấy VN đã đánh mất một cơ hội quý giá để tiếp cận với công nghệ bán dẫn đỉnh cao thế giới.

Phòng thí nghiệm Vi điện tử được đặt tại Trường ĐHBK Hà nội, là tiền thân của Viện Vật lý Kỹ thuật hiện nay. Giáo sư Nguyễn Xuân Chánh là Viện trưởng đầu tiên khi Viện được thành lập năm 1985. Ông cũng là người đã tham gia dự án Vi điện tử từ ngày đầu…

Dự án tuyệt mật GK1

Nguyễn Xuân Chánh cũng chính là một trong ba người xuất hiện trong tấm ảnh tháng 6/1972 khi đang cùng xem sơ đồ mạch điện tử mìn MK42 của Mỹ mà họ đã tìm hiểu ra và vẽ lại. Hai người kia là Vũ Đình Cự và Nguyễn Nguyên Phong.

Nguyễn Xuân Chánh, Vũ Đình Cự và Nguyễn Nguyên Phong. Nguồn: internet.

Vào thời điểm 1971-72, Nguyễn Xuân Chánh và Vũ Đình Cự cùng là giảng viên bộ môn Vật lý chất rắn Trường ĐHBK HN. Lúc ấy, Mỹ ném bom dữ dội ở miền Bắc, và bom mìn ngày càng thông minh hơn. Trong cuốn Chip War (bản dịch tiếng Việt là Cuộc chiến Vi mạch), tác giả Chris Miller kể rằng trong chiến tranh VN, quân đội Mỹ gặp vấn đề lớn về độ chính xác của vũ khí. Các loại bom và tên lửa dùng hệ thống dẫn đường bằng bóng chân không dễ rò rỉ và mất độ chính xác trong thời tiết nóng ẩm. Cầu Hàm Rồng là một trong những thách thức khiến Mỹ tức điên, vì ném bom và bắn tên lửa mãi không trúng. Năm 1965, kỹ sư Word của TI (Texas Instrument) đến gặp đại tá Mỹ Davis. Davis cho Word xem bức không ảnh chụp cầu Hàm Rồng, và hai người đếm được 800 hố bom xung quanh cầu, mà cầu vẫn trơ gan. Davis hỏi, liệu TI có thể làm gì để giúp ném bom trúng cầu. Word quyết định rằng giải pháp phải đơn giản, rẻ và kháng được thời tiết nhiệt đới. Ông ta đã nghĩ cách thêm cánh và hệ thống dẫn laser vào quả bom M-117 (mà trước đó Mỹ đã thả 638 quả xuống cầu và đều trượt!). Sau đó, Davis cho TI 13 tháng và 99 nghìn USD để làm quả bom đầu tiên, được thử nghiệm thành công. Ngày 13/5/72, không quân Mỹ đã ném 24 quả bom mới, trúng ngay cầu.

Vấn đề tương tự xảy ra ở Cảng Hải phòng, là nút giao thông trọng yếu của Miền Bắc. Bộ trưởng Giao thông Phan Trọng Tuệ và Bộ trưởng Đại học Tạ Quang Bửu đã yêu cầu nhóm Vũ Đình Cự tìm cách phá thủy lôi mà Mỹ thả xuống đây. Dự án tuyệt mật đó mang mã số GK1 (G là giao thông và K là bách khoa).

Trước 1972 thì chỉ có các loại mìn từ tính đơn giản được thả xuống để phong tỏa đường bộ và thủy. Nhóm GK1 đã biết cách vô hiệu hóa các loại này, ví dụ sau khi thấy sét đánh làm mìn nổ thì họ dùng từ trường để kích nổ. Nhưng sau 1972 thì mìn thông minh như MK42 bắt đầu xuất hiện. Chúng trơ trơ trước sấm sét và các cách phá mìn cũ, và hành xử khác lạ ở chỗ khi đoàn tàu đi qua có lúc thì nổ ngay, có khi đến tàu sau mới nổ. Sau khi lấy được và tháo rời một quả mìn, nhóm đã tìm ra một cảm biến sensor mà bộ phận nhạy là một màng mỏng vật liệu từ tính. Nhóm GK1 đã tìm ra bộ cảm biến đó nhạy với các tín hiệu nào và tại sao mìn ko nổ khi có sét đánh.

Lúc đầu, nhóm tương kế tựu kế, tạo ra “sét nhân tạo” và trang bị cho tàu bè để qua mặt mìn, khiến mìn lầm tưởng là sét và không nổ. Sau đó họ tìm ra tín hiệu khiến mìn phát nổ để rà phá.

Vũ Đình Cự và Nguyễn Xuân Chánh cũng chính là hai chuyên gia vi điện tử từ Trường ĐHBK HN trong đoàn bốn nhà khoa học VN sang Amsterdam tháng 1/1975. Hai người còn lại là Thân Đức Hiền và Lê Khắc Bình, chuyên gia Vật lý nhiệt độ thấp của Trường ĐH Tổng hợp HN.

Tại sao họ lại sang Hà lan mà không phải là một nước khác?

Sự giúp đỡ của Hà lan

Hà lan là một trong những nước Tây Âu đầu tiên giúp đỡ VN DCCH trong chiến tranh. Mục đích của họ luôn là lĩnh vực nhân đạo, tránh xa các lĩnh vực liên quan quân sự. Hành động hỗ trợ khoa học đầu tiên của Hà lan giúp miền Bắc VN được cho là của giáo sư Minnaert và các cộng sự, khi họ tổ chức Ủy ban Quyên góp sách cho Hà nội. Phong trào này xuất phát ở Pháp rồi lan sang các nước Tây Âu khác, và ước tính có nửa triệu sách được gửi cho Hà nội. Quỹ Sách cho Việt Nam của Hà lan đã tự giải thể 31/12/1975, và số tiền 5000 gulden còn lại được chuyển cho Thư viện Trường ĐHTH HN.

Một ủy ban nữa, vẫn hoạt động cho đến ngày nay, là Ủy ban Y tế Hà lan – Việt Nam (MCNV – Medisch Committee Nederlands – Vietnam), thành lập năm 1968 bởi nhóm bác sỹ Hà lan gồm GS BS Nhi khoa Jaap de Haas, BS phẫu thuật Nick van Rhijn và BS Nội khoa Fred Groenink. Một dự án nổi bật của MCNV là bệnh viện Hà lan, được vận chuyển sang và dựng ở Quảng Trị năm 1973. Ngày nay, nơi đây là Nhà lưu niệm Quảng trị – MCNV, trong khuôn viên Trường Cao đẳng Y tế Quảng trị.

Nhà lưu niệm Quảng Trị – MCNV nằm trong khuôn viên của Trường Cao đẳng Y tế Quảng Trị, nơi lưu giữ hiện vật của Bệnh viện Hà Lan xưa. (Ảnh: MCNV)

Ủy ban thứ ba, có liên quan đến dự án vi điện tử, là Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật vì Việt Nam, Lào và Căm pu chia, thành lập ngày 18/6/1971 (sau đây sẽ gọi tắt là Ủy ban KHKT hoặc ngắn gọn là Ủy ban). Đây là một tổ chức tư nhân, tình nguyện kết nối với các trường đại học ở Hà lan và Bộ Hợp tác và Phát triển Hà lan, quyên góp, xin tài trợ của chính phủ Hà lan để giúp Việt Nam. Có lẽ nhân vật tâm huyết và yêu quý VN nhất là Peter de Goeje, vốn là một lập trình viên, nhân viên của Trường ĐH Amsterdam và là một thành viên sáng lập Ủy ban.

Từ góc độ giúp đỡ các nước nghèo trong và sau chiến tranh, ưu tiên của chính phủ và người dân Hà lan là các lĩnh vực thiết yếu của cuộc sống như y tế, đê điều, nông nghiệp. Vậy tại sao lại xuất hiện dự án Vi điện tử và Vật lý Nhiệt độ thấp, vì rõ ràng hai lĩnh vực này không thể gọi là thiết yếu ở thời điểm đó. Bản thân người Hà lan cũng đặt câu hỏi…

Hai đề nghị của Bộ trưởng Bửu

Sau khi Ủy ban KHKT được thành lập, các thành viên loay hoay tìm cách liên lạc với Hà nội thông qua đại diện ngoại giao VN DCCH tại Paris, tuy nhiên vì thông tin không chắc chắn nên họ ko biết phía VN thực sự có nhu cầu gì.

Sau khi ký Hiệp định Paris tháng 1/1973 thì tình hình khả quan hơn. Các trường ĐH ở Hà lan đã quyết định hợp tác với VN, tuy nhiên vẫn chưa thể trao đổi trực tiếp với Hà nội mà chỉ thông qua cơ quan ngoại giao ở Paris. Đến 26/5/1973, mọi thứ thật sự thay đổi khi một phái đoàn 3 người VN sang thăm Hà lan theo lời mời của Ủy ban.

Đó là Nguyễn Văn Hiệu, GS Vật lý, Viện trưởng Viện Vật lý ở HN, Trần Trí, phụ trách đối ngoại của UB KH và KT Nhà nước, và Lê Thạc Cán, GS Thủy lợi, cán bộ Bộ ĐH và Trung học Chuyên nghiệp. Hai người đầu do Trần Đại nghĩa, khi đó là Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước cử đi, còn Lê Thạc Cán do Bộ trưởng Tạ Quang Bửu cử đi.

Biên bản họp 11/10/1973 của ĐHTH Amsterdam. Nguồn: kho lưu trữ Thành phố Amsterdam.

Phái đoàn này vốn sang Anh tham dự một hội nghị về tái thiết VN ở đại học London Birkbeck, phía Hà lan biết tin nên sang mời đến Hà lan. Phái đoàn đã đi thăm nhiều trường ĐH ở Hà lan và được tiếp đón nồng hậu. Đại diện của thành phố Amsterdam cũng gặp họ để hỏi về việc nên làm gì với số tiền mà người dân thủ đô Hà lan quyên góp được cho Hà nội. Sau này, số tiền sẽ được dùng để xây trường Hà nội – Amsterdam năm 1985.

Sau khi trở về HN, Lê Thạc Cán báo cáo với Bộ trưởng Bửu. Hai thành viên kia báo cáo cho Trần Đại Nghĩa. Vốn là người học ở Pháp và Anh, Tạ Quang Bửu biết rằng Hà lan rất mạnh ở hai lĩnh vực là công nghệ vi điện tử, thông qua hãng Philips, và vật lý nhiệt độ thấp, qua nhà khoa học H.K. Onnes, người đã hóa lỏng khí Heli năm 1908, phát hiện hiện tượng siêu dẫn và được giải Nobel Vật lý năm 1913. Ý đồ của Bộ trưởng Bửu được GS Thân Đức Hiền kể lại: “Thắc mắc của tôi về việc xây dựng một phòng thí nghiệm nhiệt độ thấp ở Trường ĐHTH Hà Nội được giải tỏa khi tôi được gặp Bộ trưởng Tạ Quang Bửu. GS Bửu giải thích cho tôi là ngay từ bây giờ (còn chiến tranh) ta phải chuẩn bị các điều kiện để nghiên cứu trong tương lai. Hà Lan là nước nhỏ, nhưng có 2 lĩnh vực phát triển mạnh là nhiệt độ thấp và vi điện tử. GS Bửu còn nói thêm, sau này đất nước yên bình, ta sẽ xây dựng đường tải điện siêu dẫn từ Hà Nội vào Sài Gòn để không hao tổn điện năng.” (chữ in đậm của GS Hiền)

Cẩn thận, Bộ trưởng Bửu đã cử Lê Thạc Cán lên xin phép văn phòng Thủ tướng, nhưng người ta nghi ngờ một “nghị trình hai mặt” từ phía một nước tư bản như Hà lan, nên không ai dám quyết. Chờ không được, rốt cuộc BT Bửu tự quyết định1. Tháng 6/1973, qua kênh ngoại giao ở Paris, ông chuyển đến câu hỏi rằng liệu các Trường Đại học Hà lan có muốn hợp tác trong hai chuyên ngành đó không.

Trong khi Hà nội hoài nghi về mục đích của Hà Lan thì phía Hà Lan cũng cảm thấy nghi ngờ về lựa chọn của HN, tại sao lại đặt ưu tiên vào các nghiên cứu cao cấp trong 2 lĩnh vực này. Trong buổi họp ngày 19/10/1973 tại trụ sở Nuffic (Netherlands University Foundation For International Cooperation), là cơ quan đại diện cho Bộ trưởng Hợp tác Phát triển Hà lan, có chức năng thẩm định các dự án viện trợ, với sự tham dự của các trường ĐH, Ủy ban KHKT và Ủy ban Y tế, một vài người hỏi phải chăng đây là các dự án nhằm tạo uy tín cho mấy “ông lớn” ở HN. Tại sao ko có dự án nào liên quan đến nông nghiệp, cầu đường, thủy lợi hay y tế. Rốt cuộc, tuy có thất vọng nhưng đa số có ý kiến là nên tôn trọng ý muốn của VN, và Bộ trưởng Hợp tác Phát triển Hà lan Jan Pronk sẵn sàng tài trợ cho các dự án VN, kể cả trong 2 lĩnh vực trên. Phải nói thêm là trong giai đoạn đó Đảng Xã hội Dân chủ đang nắm quyền ở Hà lan, và rất có cảm tình với Việt Nam DCCH. Bộ trưởng Jan Pronk là người của Đảng Xã hội Dân chủ Hà lan.

Sự chuẩn bị cho hai dự án vật lý bắt đầu. Qua cơ quan ngoại giao VN DCCH ở Paris, các nhà vật lý ở Amsterdam và Leiden đã trao đổi được thư từ với các đồng nghiệp HN. Hai bên thống nhất là phía VN sẽ cử người sang Hà lan vào đầu năm 1975. Trước đó, Ủy ban KH và KT nhận được lời mời sang thăm VN vào tháng 12/1974. Tại HN, phái đoàn đã chuyển hàng chục bức thư từ các trường ĐH của Hà lan bày tỏ sẵn sàng giúp đỡ VN, nhưng phản ứng của phía VN rất dè dặt. Có lẽ vì những người ở HN không biết phái đoàn là ai, và không đại diện cho chính phủ Hà lan thì đại diện cho ai.

Phòng thí nghiệm Vi điện tử

Tháng 1/1975, phái đoàn năm người gồm Nguyễn Đức Thừa – Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội làm Trưởng đoàn và bốn nhà vật lý VN sang Amsterdam. Họ bao gồm Thân Đức Hiền và Lê Khắc Bình từ Trường ĐHTH HN, cùng Vũ Đình Cự và Nguyễn Xuân Chánh từ Trường ĐHBK HN.  Cả bốn đều được đào tạo ở Liên xô, hai người trước về Vật lý nhiệt độ thấp và hai người sau là vi điện tử. Trong thời gian chuyến thăm, Ủy ban KHKT đã nộp hồ sơ xin tài trợ cho 2 dự án lên Nuffic. Hai dự án này gặp khó bởi vì chủ trương của chính phủ Hà lan là viện trợ phải dành cho “người nghèo nhất trong những người nghèo”, trong khi hai dự án lại thuộc về nghiên cứu cơ bản. Tuy nhiên, rốt cuộc hai dự án đã được chấp thuận.

Phòng thí nghiệm Vật lý nhiệt độ thấp (CryoLab) thuộc Khoa Vật lý ĐHTH HN trong thời gian 1976-1980 đã nhận được 1.09 triệu Gulden. Phòng thí nghiệm công nghệ bán dẫn và vi điện tử của ĐHBK HN trong thời gian 1975-1978 nhận được 416,200 Gulden. Các thiết bị quan trọng nhất cho hai dự án này được mua từ hãng Phillips, và hai phòng thí nghiệm được trang bị trong khoảng 1976-78.

Sự cố tại giảng đường ĐHBK với GS Memelink năm 1975 lắng xuống thì lại phát sinh một sự cố mới. Một giảng viên Việt Nam sang thực tập ở Twente sau khi về nước đã biến mất mấy tháng. Vì khi ở Twente anh đã có những phát biểu ‘thoáng’, nên phía Hà lan nghi là anh ‘đang vất vưởng trong một trại cải tạo nào đó ở VN’. Trong một cuộc viếng thăm vào thời điểm đó của hai nhà khoa học từ Twente sang VN, không một ai trong dự án Vi điện tử có thể hoặc muốn cho họ biết anh kia đang ở đâu. GS Memelink tỏ ra thất vọng trong một cuộc phỏng vấn đầu 1978: “thời gian và công sức mà nhóm chúng tôi dành cho anh ta dường như trở thành vô nghĩa”.

Thêm nữa, các nhà khoa học và kỹ thuật của ĐH Twente lúc nào cũng chỉ nhận được visa vào phút chót, mặc dù chuyến thăm đã được thống nhất từ nhiều tháng trước. Đầu 1978, Memelink đưa ra quyết định là sẽ không tiếp tục hợp tác sau khi kế hoạch năm đó của dự án hết hạn. Lý do ông đưa ra là khả năng ứng dụng về quân sự là quá lớn.

Trường ĐH Twente ủng hộ đề xuất của Memelink, nhưng chỉ giới hạn trong việc anh nghiên cứu sinh biến mất, chứ không đả động gì đến ứng dụng quân sự. Quan điểm này cũng bị nhiều người hoài nghi vì cho là một phòng thí nghiệm nhỏ như vậy thì không thế chế tạo được chip cho quân sự. Khi phía Hà lan thông báo ý định và nguyên nhân chấm dứt cho VN, thì anh nghiên cứu sinh kia lại nhanh chóng xuất đầu lộ diện, nhưng không thay đổi được tình thế. Rốt cuộc không rõ vì sao người đó lại biệt tăm một thời gian như vậy, tuy nhiên có một vài người VN cho rằng chuyện này liên quan đến mâu thuẫn trong việc ai sẽ được chọn làm trưởng phòng thí nghiệm.

Cuối 1978, dự án Vi điện tử chấm dứt2. Năm 1985, đại tướng Võ Nguyên Giáp và GS Trần Đại Nghĩa đã vận động nâng cấp phòng thí nghiệm Vi điện tử lên thành cấp Viện. Đó là lần đầu tiên một bộ môn của một đơn vị giáo dục được mang danh hiệu một viện nghiên cứu, vì trước đó mọi hoạt động nghiên cứu đều tập trung ở Trung tâm KHTN và Công nghệ quốc gia, còn các trường ĐH chỉ giảng dạy. Sau vài lần thay đổi sáp nhập, phòng thí nghiệm nay trở thành Viện Vật lý Kỹ thuật thuộc ĐHBK HN.  

Nhưng câu chuyện hợp tác bán dẫn với Hà lan chưa kết thúc ở thời điểm 1978. Điều thú vị là sự tiếp nối của nó lại gắn với dự án thứ hai, là phòng thí nghiệm Cryolab. Đó là sự ra đời của Trường đào tạo quốc tế về khoa học vật liệu (ITIMS) mà GS Thân Đức Hiền sẽ là Giám đốc đầu tiên.

ITIMS

Sau chiến tranh Căm pu chia và chiến tranh biên giới 1978-79, nhiều thay đổi xảy ra với các chương trình hỗ trợ từ phương tây bao gồm Hà lan. Nhưng Hà lan vẫn tiếp tục hỗ trợ VN trong 14 dự án, và đó là những hỗ trợ duy nhất dạng này mà VN nhận được từ nước ngoài. Một trong những lý do mà phía Hà lan tập trung vào giúp thiết bị cho HN là vì họ thấy, mặc dù hàng trăm hay cả ngàn người VN được sang học tập ở Đông Âu, nhưng nặng về lý thuyết và không bao gồm việc gửi thiết bị thực nghiệm sang VN.

Có một câu chuyện thú vị về hỗ trợ của Hà lan trong lĩnh vực nông nghiệp, là vấn đề “mật ướt”. Giữa thập niên 1980, Ủy ban KHKT được lưu ý về một khó khăn của VN: hầu như tất cả mật ong sản xuất tại VN đều lên men vì chứa quá nhiều nước. Trước kia thì không phải là vấn đề, nhưng nay VN muốn xuất khẩu. Theo đề nghị của Ủy ban, một chuyên gia nuôi ong là Vincent Mulder đã sang VN năm 1986 và ở lại đến 1992. Mulder đã tìm ra nguyên nhân là mật ong được thu hoạch quá sớm. Ý kiến tư vấn của anh đã mang lại kết quả bước ngoặt, sản lượng xuất khẩu 1986 chỉ là 25 tấn đã tăng lên 1629 tấn năm 1995.

Tháng 3/1989, trong một cuộc gặp với phía Hà lan tại HN, tướng Giáp nêu ý tưởng nhờ Hà lan hỗ trợ về lĩnh vực quản lý. Đại diện Hà lan hứa sẽ tìm hiểu thêm và đề nghị xem xét tổ chức một hội nghị như vậy ở Amsterdam. Đến tháng 7 năm đó, de Goeje cùng nhà vật lý Frans Bekker, người từng liên quan đến dự án Vật lý nhiệt độ thấp, đến thăm ĐSQ VN tại Paris. Sau khi bàn thảo, các bên thấy chưa phải thời gian thích hợp cho một Hội nghị về khoa học quản lý, nhưng lại nảy ra ý tưởng về một Hội nghị Khoa học vật liệu ở Hà nội, vì khi đó VN đã có nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này và không chỉ trong phạm vi hợp tác với Hà lan, hơn nữa sự giúp đỡ của Đông Âu đã kết thúc và VN cần phải tự lực.

Bên cạnh ĐH TH Amsterdam, ĐH Kỹ thuật Twente cũng muốn nối lại quan hệ sau khi dự án Vi điện tử kết thúc năm 1978, vì vi điện tử là một thành tố thiết yếu trong đầu ra của Khoa học Vật liệu. Mối lo người Nga sẽ tiếp thu công nghệ và kỹ thuật của Hà lan qua kênh dẫn VN cũng đã không còn. Phía VN rất phấn khởi khi biết có thể có nguồn tài trợ mới. Các bên quyết định Hội nghị sẽ đc tổ chức ở HN vào tháng 10/1990.

Hội nghị có 2 phần: Chất bán dẫn và Pin năng lượng mặt trời và Vật liệu dựa trên đất hiếm và Ứng dụng, được giới thiệu lần lượt bởi Arthur Willoughby (Anh) và Jaap Franse. Đã có 8 người tham dự từ Châu Á, 18 người từ Châu Âu, 2 từ Hoa Kỳ, 3 từ Liên Xô và khoảng 90 người từ Việt Nam đã làm cho hội thảo thực sự thành công (Nguồn #3).

Một nhóm công tác Hà lan, theo yêu cầu của Bộ Hợp tác và Phát triển và Bộ Ngoại giao, đã sang VN vào thời điểm Hội nghị kể trên để thẩm định dự án khoa học vật liệu. Các cuộc thảo luận ở HN đã đi đến một kết luận là sẽ thành lập một Viện nghiên cứu mới để quy tụ các nhóm nghiên cứu hàng đầu cuả VN trong lĩnh vực KH vật liệu, đến từ ĐHTH HN, ĐHBK HN và Trung tâm nghiên cứu KHTN và CN QG. Một số lớn trong đó đã từng tham gia các dự án với Hà lan trong các lĩnh vực Hóa phân tích và Hóa hữu cơ, Vật lý nhiệt độ thấp và Vi điện tử. Viện mới sẽ tiếp quản các quan hệ hợp tác đã thiết lập từ 1975. Viện mới này sẽ được đặt tên là Viện đào tạo Quốc tế về Khoa học vật liệu (ITIMS), và được đặt trực tiếp dưới quyền quản lý của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT Trần Hồng Quân, để tránh sự giành giật giữa 3 cơ quan đồng tham gia.

Tháng 12/1990, Bộ Ngoại giao Hà lan nhận được kết quả thẩm định. Bộ trưởng Hans van den Broek phản bác dự án, vì cho là sẽ hậu thuận cho hệ thống chính trị ở VN và có thể có tác dụng quân sự. Như vậy là một lẫn nữa người HL lo ngại về ứng dụng quân sự. Đến mãi đầu tháng 6/1991, Bộ trưởng Pronk mới đạt được một thỏa hiệp với Bộ Ngoại giao HL: lãnh đạo hai trường ĐH có liên quan là ĐHTH Amsterdam và Twente phải đến gặp Bộ NG và đưa ra các lý lẽ thuyết phục là dự án sẽ ko đưa đến các ứng dụng quân sự. Bộ NG theo đó sẽ thông qua dự án.

Mãi đến 19/9/1991, Pronk mới thông báo là Bộ NG đã chấp thuận: họ ko hồ hởi gì, nhưng ko muốn ngăn cản thêm nữa. Quá sung sướng, de Goeje và Bekker đã mở tiệc ăn mừng và báo cho HN. Họ muốn đi HN ngay để triển khai đề án, nhưng đến tháng 4/1992 mới có thể đến HN vì đến lượt ĐSQ Hà lan ở Bangkok, khi ấy đại diện cho cả VN, cũng có những ý kiến phản đối về chính trị.

Trang web của ITIMS viết: “trong Hội thảo quốc tế đầu tiên về Khoa học Vật liệu tổ chức tại Hà nội vào năm 1990 và được tổ chức bởi Viện Vật lý và bốn trường ĐH Việt nam và Hà lan, các nhà khoa học từ nhiều nước đã đề xuất và ủng hộ ý tưởng về việc thiết lập một viện nghiên cứu và đào tạo mới. Nhờ vốn tài trợ từ phía Hà lan, đã hình thành một dự án hợp tác giữa Việt nam và Hà lan”. ITIMS chính thức được thành lập tháng 12/1992, nhưng thiếu ngân sách để xây phòng thí nghiệm đặc chủng và mua thiết bị. Bộ Hợp tác Phát triển Hà lan và trường ĐH Amsterdam đã giúp xây tòa nhà thí nghiệm và xây dựng phòng sạch. Lễ khánh thành tòa nhà ITIMS diễn ra vào cuối 1997 với sự hiện diện của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT VN và Đại sứ Hà lan. Giám đốc đầu tiên của ITIMS là GS Thân Đức Hiền.

Theo một nhà nghiên cứu VN, viện đã được thành lập rất đúng lúc, và đã giúp ngành Vật lý VN vượt qua được khoảng cách giữa các hoạt động nghiên cứu bị cô lập ở VN trong thời chiến tranh lạnh và tình trạng mới là các hoạt động nghiên cứu phải mang tính quốc tế.

Từ 2023, ITIMS là một đơn vị thuộc Trường Vật liệu trong ĐH BK Hà nội.

Thay lời kết

Tôi tình cờ biết được các câu chuyện trên trong quá trình đi tìm hiểu về khoản tiền mà người dân Amsterdam đã viện trợ cho Hà nội để xây nên Trường THPT Chuyên Hà nội – Amsterdam. Tôi đã đọc được cuốn hồi ký của Peter de Goeje viết năm 2011 có tựa đề “Gửi lời chào đoàn kết. Trợ giúp kỹ thuật và khoa học cho VN 1971-2011”, do Cao Xuân Tú dịch, Nguyễn Thế Hiện hiệu đính, NXB Đại học Quốc gia Hà nội phát hành năm 2012. Vì thấy nội dung liên quan đến chủ đề đang rất hot hiện nay là bán dẫn, nên tôi lọc từ sách các thông tin liên quan và viết bài này. Ngoài ra, tôi cũng kiểm tra lại qua một số người và một số nguồn trên mạng (xem ở dưới).

Qua câu chuyện này và nhiều câu chuyện khác nữa trong sách, tôi thấy cảm phục và biết ơn người dân và chính phủ Hà lan, đã giúp Việt Nam vào những giai đoạn khó khăn nhất. Tôi thầm biết ơn ngài bộ trưởng Jan Pronk (link bài về ông trên wikipedia) đã yêu quý và hào phóng với Việt Nam, đặc biệt vì ông đã quyết định chi thêm 1 triệu Gulden từ ngân sách của Bộ Hợp tác Phát triển năm 1973 để cộng thêm vào khoản gần 200,000 Gulden mà người dân Amsterdam quyên góp cho Hà nội. Khoản tiền gần 1.2 triệu Gulden này chính là khoản viện trợ để xây trường Ams.

Tôi cũng đã gửi email bày tỏ sự biết ơn với Peter de Goeje, người dành nhiều công sức cho Việt Nam trong suốt 40 năm 1971-2011 và là tác giả cuốn sách. Ông đã vui lòng gửi tôi tấm ảnh để đưa vào bài viết này.

Peter de Goeje (sinh 1943). Ảnh ông gửi cho người viết bài này, tháng 6/2024

Tài liệu tham khảo

  1. Bài của GS Thân Đức Hiền: https://vnu.edu.vn/ttsk/?C1657/N2729/Su-ra-doi-du-an-Phong-thi-nghiem-Vat-ly-Nhiet-do-thap-(Cryolab).htm
  2. Website ITIMS: https://itims.edu.vn/gioi-thieu/qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien
  3. Bài của Frans Bekker năm 2012 nhân kỷ niệm 20 năm ITIMS (English)

Ghi chú

  1. Frans Bekker (nguồn #3): “This, however, was indeed the proposal of the VN minister of education, Ta Quang Buu. Nowadays we must admit, that he had in the almost last year of the war an impressive view on and trust in the potency of his fellow countrymen to make first steps in the direction of future self-reliance of VN” ↩︎
  2. Frans Bekker (nguồn #3): “The University of Twente stopped the Micro-electronics project; the Dutch project leader, a pacifist, could not agree, that students in military uniforms visited his lectures in Hanoi.” ↩︎

1 thought on “Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội bán dẫn như thế nào?

  1. Pingback: Trường Ams được hình thành như thế nào? - Phan Phuong Dat

Leave a ReplyCancel reply