Dịch từ Three Modes of Cognition, Kevin Kelly, 3/3/2026. Nguồn
Trí thông minh (intelligence) không phải là nguyên tố. AI cũng vậy. Cả hai đều là những tổ hợp phức tạp được cấu thành từ các thành phần nhận thức nguyên thủy hơn, một số trong đó chúng ta chỉ mới khám phá ra gần đây. Chúng ta vẫn chưa có một bảng tuần hoàn về nhận thức, vì vậy chúng ta vẫn chưa hoàn thành việc xác định các thành phần (nguyên tố) cơ bản của trí thông minh là gì.
Trong thời gian chờ đợi, tôi đề xuất ba loại (class) nhận thức tổng quát mà khi kết hợp lại có thể tạo nên một thứ gì đó giống như trí thông minh của con người. Ba loại đó là: 1) Suy luận tri thức (knowledge reasoning), 2) Cảm nhận thế giới (world sense), và 3) Trí nhớ và học tập liên tục (continuous memory and learning).

Suy luận tri thức là loại nhận thức được tạo ra bởi các LLM. Đó là một kiểu super-smartness đến từ việc đọc (và ghi nhớ) mọi cuốn sách từng được viết ra, và tiếp thu mọi thông điệp bằng văn bản từng được đăng. Cái trí thông minh dựa trên kiến thức này cực kỳ hữu ích trong việc trả lời câu hỏi, làm nghiên cứu, giải quyết các vấn đề trí năng, hoàn thành các nhiệm vụ kỹ thuật số, và thậm chí có thể đưa ra những ý tưởng mới lạ. Một LLM có thể tạo ra cả một quốc gia những chuyên gia tiến sĩ. Ngay trong năm 2026, cái thông minh dựa trên sách (book-smartness) này đã vượt xa khả năng của con người.
Cảm nhận thế giới là một loại trí thông minh được rèn luyện trên thế giới thực, thay vì rèn luyện trên các mô tả bằng văn bản về thế giới thực. Loại trí thông minh này đôi khi được gọi là mô hình thế giới, hoặc Trí thông minh không gian, bởi vì loại nhận thức này dựa trên (và được rèn luyện trên) cách mà các vật thể vật lý hành xử trong thế giới ba chiều của không gian và thời gian, chứ không chỉ trong thế giới phi vật chất của những từ ngữ nói về thế giới. Loại nhận thức này biết cách mọi thứ nảy lên, chảy, hoặc cách mà các protein gấp lại, hoặc các phân tử rung động, hoặc ánh sáng bị bẻ cong. Nó bao gồm việc nhận thấy trọng lực, ý thức về tính liên tục, cảm nhận về tính vật lý của vật chất, và hiểu biết sâu sắc về cách khối lượng và năng lượng được bảo toàn. Đây là loại nhận thức đã giúp xe Waymo vận hành tốt hơn cả con người.
Chúng ta chưa có một lượng lớn robot vào năm 2026 vì loại nhận thức này dựa trên nhiều thứ hơn là chỉ các LLM. Nó đòi hỏi nhiều lớp thành phần nhận thức khác hoạt động cùng với mạng nơ-ron, chẳng hạn như thuật toán thị giác, và các Mô hình Thế giới như Genie 3, được huấn luyện trên hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu video YouTube. Các video về đời thực dạy những bài học về hoạt động trong thế giới thực. Trí thông minh tự lái của Tesla được huấn luyện trên hàng tỷ giờ video lái xe được thu thập từ những chiếc xe do con người điều khiển, giúp nó học được cách thức mà ô tô, người đi bộ và môi trường hành xử trong thế giới thực. Điểm trung tâm của loại thông minh vật lý (physical smartness) này là common sense, loại common sense mà một đứa trẻ 5 tuổi đã có, nhưng hầu hết các AI hiện nay đều không có. Ví dụ, ý thức rằng các vật thể không biến mất chỉ vì bạn không nhìn thấy chúng. Để robot có thể đảm nhận nhiều nhiệm vụ tẻ nhạt của chúng ta, loại ý thức về thế giới và trí thông minh không gian này sẽ rất cần.
Học tập liên tục là yếu tố thiết yếu cấu thành trí thông minh của con người, nhưng hiện đang thiếu trong AI. Một số người thậm chí định nghĩa AGI là trí thông minh học tập liên tục. Khi tỉnh, chúng ta liên tục học hỏi, cố gắng khắc phục sai lầm (đừng làm vậy nữa!), tìm ra những cách thức mới dựa trên những gì chúng ta đã biết. Một lý do chính khiến các AI agent chưa thay thế được người lao động vào năm 2026 là vì các AI agent không bao giờ học hỏi từ sai lầm của mình, trong khi người lao động, dù không thông minh bằng, có thể học hỏi trong quá trình làm việc và có thể tiến bộ hơn mỗi ngày.
Bất chấp kỳ vọng của chúng ta, các LLM hiện tại không học hỏi lẫn nhau, và cũng không học hỏi khi bạn sửa lỗi cho chúng hết lần này đến lần khác. Hiện tại, chúng không có cách đủ tốt để ghi nhớ sai lầm của mình hoặc sửa chữa, cũng như không thể trở nên thông minh hơn nhiều hơn một lần mỗi năm – khi chúng được đào tạo lại từ phiên bản 4.0 lên 5.0. Mỗi lần bạn sửa lỗi của ChatGPT, nó sẽ quên mất trong cuộc trò chuyện tiếp theo. Mỗi lần một robot thất bại trong một nhiệm vụ, nó sẽ thất bại theo cách tương tự vào ngày mai. Đây là lý do tại sao AI không thể đảm nhiệm một công việc thực sự vào năm 2026.
Hiện tại, chúng ta thiếu thiên tài phần mềm có thể cài đặt khả năng học liên tục (ở quy mô lớn) cho máy móc. Đây là một lĩnh vực nghiên cứu trọng điểm, hiện chưa rõ liệu các mô hình mạng nơ-ron hiện tại có khả năng phát triển khả năng này hay không, hay liệu có cần đến các kiến trúc mô hình mới hay không. Học liên tục đòi hỏi một bộ nhớ hoạt động liên tục, điều này rất tốn kém về mặt tính toán, bên cạnh nhiều vấn đề khác. Lúc AI có bước nhảy vọt đột ngột tiếp theo về khả năng, rất có thể đó sẽ là khi ai đó tìm ra giải pháp cho chức năng học liên tục. Nhân viên con người khó có thể mất việc vào tay những AI không thể học liên tục, vì rất nhiều công việc chúng ta cần thực hiện đòi hỏi khả năng học liên tục trong công việc.
Có thể có những thành phần nhận thức cơ bản khác trong hỗn hợp trí thông minh của con người, nhưng tôi tin chắc rằng nó bao gồm ba thứ này như là các thành phần chính. Để sản xuất AI, chúng ta có nguồn cung dồi dào Knowledge IQ, và chúng ta có một lượng sơ bộ World IQ, nhưng đang thiếu trầm trọng Learning IQ trên quy mô lớn.
Điều quan trọng cần thừa nhận là đối với nhiều công việc, chúng ta không cần cả ba thứ. Để lái xe, chúng ta chủ yếu cần cảm nhận về thế giới. Để trả lời câu hỏi, kiến thức sách vở của LLM thông minh là phần lớn những gì chúng ta cần. Có thể có những tình huống sử dụng một AI chỉ học hỏi mà không có cảm nhận về thế giới hoặc thậm chí không có nhiều kiến thức như vậy. Và tất nhiên, sẽ có nhiều phiên bản lai với hai loại, hoặc chỉ một chút của hai hoặc ba loại.
Tóm lại, trong khi các LLM hiện tại (tháng 2 năm 2026) vượt trội hơn con người rất nhiều về khả năng suy luận dựa trên kiến thức, chúng vẫn thiếu hai kỹ năng nhận thức quan trọng khác trước khi chúng có thể thực sự thay thế con người: chúng không nắm bắt hoàn hảo thế giới thực (do đó không phải là robot), và chúng không học hỏi. Tôi dự đoán việc ứng dụng rộng rãi AI trong 2 năm tới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc hai phương thức nhận thức còn lại có thể được tích hợp vào AI đến mức nào.
Hi anh Đạt,
Bài viết này có một số chỗ gợi đến cái mà bấy lâu em cũng khá là nhiều hứng thú: ý thức, sự tỉnh táo (consciousness)…
Em đọc bài viết và viết một đoạn ghi chú ngay khi đang đọc đoạn đầu… Rồi em tìm đọc lại một hai cái ghi chú của mình mà em đã viết trước đó.
Xin chia sẻ với anh cái ghi chú em viết khi đang đọc bài viết này và cả hai cái ghi chú khác em viết trước đó…
Đó là hai trong số rất nhiều những cái ghi chú em viết để phát triển một cái ý mà hiện tại em vẫn chưa thể diễn tả được -vẫn đang trong quá trình đi đến sự rõ ràng, gọn gàng (nếu có). Nếu một ngày nào đó điều đó xảy ra, thì em sẽ viết nó ra rõ ràng hơn.
Em rất “enjoy” bài viết này.
Cảm ơn anh đã dịch và chia sẻ.
–d.k.
1. Ghi chú viết khi đọc bài viết:
Từ tháng 9.2025 đến nay em dành rất nhiều thời gian quan sát, theo dõi, cảm nhận để nhằm hiểu thêm, hiểu sâu sắc hơn ý thức hay sự tỉnh táo (consciousness) là gì, và bản chất của nó là như thế nào: Một người tỉnh (a conscious man) và một người không tỉnh (an unconscious man) khác nhau như thế nào? Sự có ý thức và sự không có ý thức khác nhau như thế nào? Cái ‘ý thức’ ở đây là gì và nó như thế nào? Nó trỗi lên và mất đi như thế nào? Nó hình thành như thế nào và bản chất của nó là như thế nào?
//–Ghi chú riêng: Thực ra, việc đang viết những dòng này để chút nữa gửi vào mục bình luận của bài viết cũng là thêm một lần nữa em dành thời gian quan sát, suy nghĩ và cảm nhận về ý thức hay sự tỉnh táo (consciousness).
Có một điểm trùng hợp là sau những lần suy nghĩ của mình thì từ cách đây vài tháng em cũng nảy ra nhiều ý, nhiều suy nghĩ liên quan đến cái ý thứ hai trong ba loại (class) nhận thức mà tác giả bài viết nhắc đến. Đó là ý về “world sense” – cảm nhận thế giới” – ( 2) Cảm nhận thế giới (world sense),
Trong hai suy nghĩ gần đây nhất của mình thì em đi đến suy nghĩ, cảm nhận rằng: Cái được gọi là ý thức (consciousness) là kết quả của sự hoạt động của các giác quan (senses). Nhờ thính giác chúng ta cảm nhận (sense) hoặc có ý thức (be conscious) về thế giới quanh mình qua đường âm thanh. Nhờ thị giác (sight) chúng ta thấy (sense/see) được thế giới bên ngoài qua đường hình ảnh. Và nhờ các giác quan khác mà chúng ta thấy được thêm thế giới qua những con đường khác.
(//–Sidenote: Viết đến đây, em chợt nảy ra ý rằng: liệu có thể xảy ra không: một ngày nào đó chúng ta khám phá ra thêm những con đường, những cách, những lối để cảm nhận (sense) thế giới bên ngoài theo một cách nào đó mà từ trước đến nay chưa ai từng biết, nói theo một cách khác thì: có thể nôm na rằng chúng ta khám phá ra thêm một hay nhiều giác quan (sense) hay có thêm những cách mới để cảm nhận (sense) thế giới bên ngoài… Ngoài những gì hiện chúng ta đều biết từ lâu: tai, mắt, mũi, miệng, và da thịt -thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác, và xúc giác.–//)
Quay trở lại với ý chính, trước khi viết sidenote: như vừa nói gần đây em đi đến suy nghĩ và cảm nhận rằng ý thức hay sự tỉnh táo (consciousness) đến từ sự hoạt động của các giác quan.
Hay nói theo một cách khác ý thức hay sự tỉnh táo (consciousness) là kết quả của sự hoạt động của các giác quan (consciousness is the outcome of the works of senses).
Các giác quan (senses) là nguyên nhân (cause) và ý thức hay sự tỉnh táo (consciousness) là hệ quả (effect).
—
2. Hai ghi chú riêng
//–1.
27T022026: Checking up “consciousness” in my dictionary app.
I’m currently on a bus. And I have been looking at cars passing by through the bus’s window and I wondered: Is consciousness seeing or isn’t it?
When I’m seeing a car I’m conscious of it, right?
And when I cease seeing a car I’m not conscious of that car, right?
Seeing is just a sense among senses, and this applies to other senses like hearing, smelling… too.
If the above is true, then: when I’m sensing I’m conscious. Or I’m conscious when I’m still sensing.
If this is true then: consciousness is sensing.
Loosing consciousness is loosing sense.
That is.
–d.k.2.39pm, 27T22026, on the bus to Hanoi.
//–2.
4h22 sáng, vừa tỉnh ngủ, và nghĩ về ngủ và mơ… Tự hỏi: chỉ mấy phút trước (đang ngủ và mơ) thấy khi ấy rất thực (như lúc tỉnh này), bây giờ thì cũng đang thấy như khi ấy: cái cảm giác thấy là như nhau… Rồi một lúc sau thì lại tự hỏi: đâu, điều gì là cái khác biệt khi ấy, lúc ấy (khi ngủ và lúc mơ) và bây giờ?
Sau một lúc thì nhớ đến cái ý tầm một tháng trước đã nghĩ đến và viết ghi chú: cái ý về “multi senses – consciousness là kết quả của ‘multiple senses’ – khi ngủ thì đầu óc vẫn hoạt động, nhưng các senses thì bị tắt hoặc không tham gia, không đóng góp vào… Khi tỉnh thì đầu óc vẫn hoạt động và có thêm sự tham gia của các senses và chính điều này làm nên “consciouness – tỉnh/thức”.
Nãy (vài phút trước, lúc vừa tỉnh dậy) thấy cái ý này “make sense” nên đã dậy hẳn để lấy điện thoại chép vào.
–d.k.09T022026.
P.S. Tầm một tháng, hơn một tháng qua: chỗ ăn ở xáo trộn rất nhiều thành ra mình cũng ngừng nghĩ về những cái ý đang nghĩ trước đó -lâu lâu rồi- thế nào mà bỗng nhiên hôm nay lại nảy ra ý mới cho cái “Thinking on think” này; thấy bất ngờ vì nó đến bởi lâu lâu rồi không nghĩ gì về nó (nó tự đến), nhưng khi nghĩ về nó thì vẫn thấy thích thú như trước kia.
Thêm vào một lúc sau: Khi chúng ta tỉnh, các senses (được tôi luyện dần theo sự khôn lớn của ta -chứ hổi mới sinh ra chưa hẳn đã có), sự tham gia của các senses giống như các ‘chuẩn mực -standards’, những chuẩn mực này là cái làm nên năng lực phân định cái gì hợp lý, cái gì không hợp lý” – cái hợp lý ở đây có thể kể đến những thứ như những điều thực tế, còn cái không hợp lý có thể ví dụ như: nhiều thứ bay bổng, phi thường trong những giấc mơ.
Khi chúng ta tỉnh, chúng ta có sự tham gia của các giác quan (senses) vào quá trình đưa ra kết luận: chúng ta dựa (một phần nào đó) vào các giác quan, hoặc lấy giác quan (chính xác là lấy các chỉ dẫn của các giác quan –các chỉ dẫn này cũng không bỗng nhiên là có mà nó được tôi luyện và hình thành theo sự phát triển của một người; thành ra giữa hai người khác nhau cái giác quan và cách mà nó phân định, chỉ dẫn, cách mà những phân định này được hình thành, nền tảng mà nó dựa trên, dựa vào (lý lẽ, logic của nơi người đó sống) … có thể khác và cũng thường ít nhiều khác với người khác… thành ra giữa người với người mặc dù có rất nhiều điểm chung nhưng vẫn có đôi chút sự khác biệt trong cách phân định, phán đoán: sự khác biệt trong phân định và phán đoán này (khi hai người cùng nhìn vào một tình huống, cùng có chung một trải nghiệm) đến từ gốc gác là sự khác nhau từ quá trình hình thành và phát triển các giác quan và trí óc của mỗi người và cách thức mà trí óc và các giác quan đã được tôi luyện, đã được huấn luyện để thao tác, xử lý…).
Khi chúng ta ngủ, đầu óc vẫn hoạt động nhưng các giác quan thì đã ngừng hoạt động hoặc động ở mức rất ít, thành ra trí óc và sự tưởng tượng cứ thế bay bổng, mà không có cảm giác hợp lý hay không hợp lý, bởi không có sự tham gia đầy đủ của các giác quan cho nên thiếu các yếu tố cần thiết để có thể phân định sự hợp lý.
Khi ngủ chúng ta thiếu sự tham gia đầy đủ của các giác quan cho nên chúng ta không phân định được sự hợp lý… Thành ra, khi ngủ là khi không có sự hợp lý. Sự hợp lý ở đây ví dụ: cao thấp, xa gần: cái ở xa thì xa hơn: thế là hợp lý; cái ở gần thì gần hơn thế cũng là hợp lý;… Khi ngủ chúng ta không còn dùng được tai, mắt nên không có công cụ để đánh giá các phán đoán hoặc nói theo cách khác “các công cụ này thôi ràng buộc cho nên cái suy nghĩ cứ như thế tự nhiên đi nơi này, nơi khác một cách ngẫu nhiên…”
Vài phút trước: khi đang viết cái ý ở đoạn trên xuống thì nảy ra cái ý còn sơ khai: khi ngủ thì tất cả những gì ta đã trải qua, đã lưu trong trí óc… Tất cả đều như được để trong một cái kho chung: chẳng còn sự sắp xếp. Muốn sắp xếp thì ít nhiều đều cần phải dựa theo nguyên tắc hay lề lối này nọ… Nghĩa là cái đầu óc ta phải nhớ về cái lề lối ấy (thường là cục bộ: nghĩa là tùy lúc, tùy nơi mà các nguyên tắc này khác nhau; nghĩa là đây là một điều mà người ta phải học, phải nhớ thì mới biết chứ không phải ai cũng biết, và mỗi người biết mỗi khác (có thể na ná giống nhau) chứ không phải ai cũng như ai.
Khi ngủ thì tất cả trí óc, trí nhớ đều như nhau…
Khi ngủ thì các giác quan ngừng hoạt động hoặc hoạt động rất yếu thành ra ta cũng mất trạng thái tỉnh (consciousness) và ta cũng mất sự lý trí…
Tỉnh (consciousness) đến từ đầu óc + các giác quan.
Lý trí đến từ sự nhớ về các nguyên tắc cục bộ (nền tảng lý lẽ của một người chính là những nguyên tắc hay cách phân định, xử lý thông tin từ bên ngoài và cả những điều đã thu nạp vào đầu từ trước mà người ấy đã thu nạp) và việc áp các nguyên tắc này vào quá trình thu thập và xử lý thông tin, sự kiện, trải nghiệm đang diễn ra và đưa ra những quy kết, đúc kết…
Khi chúng ta ngủ thì cái đầu óc vẫn hoạt động, nhưng nó không còn như khi thức (do thiếu sự hoạt động đầy đủ của các giác quan nên khi ngủ ta mất sự tỉnh thức -cái chỉ có khi có đầu óc+có giác quan), vậy nên khi ngủ thì ta cũng không lý lẽ như khi thức.
(Cơ bản đã chép xuống 98-99% những cái ý đang có; nên giờ quay lại ngủ tiếp. 5h30 sáng, chép các ý xuống mà cũng hết hơn một tiếng rồi.)
Thêm vào sau 2(1 tiếng sau): “The logic – sự hợp lý, lý lẽ” của một mẩu thông tin (a piece of information) hay của một điều gì đó diễn ra trong trí óc của chúng ta: không bỗng nhiên mà có, mà có lẽ nó đến từ, nó được thêm vào trong trí óc của chúng ta cùng lúc, cùng thời điểm cái thông tin chính được thêm vào -nhưng chúng ta thường chỉ để ý nhận biết đến cái thông tin chính bởi nó nổi bật, nó quan trọng, nó chỉ có một… Còn những thông tin thêm vào thì vô số kể.
Chẳng hạn chúng ta nhìn thấy một chiếc lá vàng rơi: chiếc lá vàng rơi đọng lại trong đầu chúng ta và chúng ta nhớ thông tin đó. Nhưng bên cạnh đó là cái cây mà chiếc lá đã rơi là cây gì, cây cao bao nhiêu, cây đó ở đâu, hôm ấy thời tiết thế nào: nắng hay mưa, nhiều gió hay ít gió… Những thứ này chúng ta đều biết nhưng không nhớ đến…. Tuy nhiên, chính những thứ như thế này lại là cái tạo “bối cảnh” và cái bối cảnh này cũng là cái để ta căn vào đó mà quyết định sự hợp lý của cái điều ta thấy hoặc cái điều ta đang xử lý ở trong đầu: nếu nó giống nhiều, nếu nó tương tự như cái bối cảnh quen thuộc thì ta thấy hợp lý (ví dụ ta thấy lá cây rơi từ cây có nhiều lá vàng thì hợp lý: bởi ở hoàn cảnh, khung cảnh ấy (cây, lá vàng) thì cảnh lá rơi cũng là bình thường. Nhưng nếu đó là cây non mùa xuân thì ta thấy có gì đó ngợ ngợ; nếu đó là cây cột điện thì ta thấy bất thường, phi lý, không còn hợp lý (lúc này cái bối cảnh đã khác hẳn)…
Bạn đang có một thói quen rất quý, là ghi lại những suy nghĩ của mình. Bản thân tôi chưa suy ngẫm nhiều về ý thức, cũng chỉ mới bắt đầu quan tâm khi nó trở thành 1 chủ đề quan trọng liên quan đến AI – ví dụ Harari luôn nhấn mạnh sự khác biệt giữa trí thông minh và ý thức, và cho rằng còn lâu (nếu có thể) thì AI mới có đc ý thức.
Theo tôi thì ý thức ko chỉ đến từ các giác quan mà còn từ cả cảm nhận bên trong, từ các quá trình nội tại mà đôi khi ko cần sự tham gia của các giác quan. Nhân tiện, bên Book Hunter đang cbi xuất bản cuốn “Being You: A New Science of Consciousness” chính xác là về chủ đề này, có thể bạn quan tâm.
Em viết xuống vì nếu không viết xuống thì sẽ rất nhanh quên. Cũng chưa khi nào nghĩ về nó như là thói quen cả.
Em đã take note những ý anh chia sẻ.
Nếu sau này có thêm ý nào, em sẽ chia sẻ tiếp.
—
P.S. Cảm ơn anh đã đọc mấy cái ghi chú của em.
Việc có người đọc (dù chỉ 1 thôi) mấy cái ghi chú đó là một việc quan trọng, nhiều giá trị với em.
–d.k.
Hi anh Đạt,
Em vẫn chưa đọc cuốn hôm trước anh gợi ý.
Nhưng mấy hôm nay khi đọc mấy cuốn sách của bà Helen Keller (1880-1968), một người khiếm thị và khiếm thính từ khi còn rất nhỏ thì một số đoạn bà viết trải nghiệm mà bà có ở bên trong và về thế giới bên ngoài những năm đầu đời -trước khi được dạy chữ,… đã đem đến cho em nhiều “insight” quý để từ đó em có thêm mấy suy nghĩ về ý thức (consciouness).
Em có tổng hợp những suy nghĩ thành một ghi chú, xin được chia sẻ với anh.
Và em cũng gợi ý anh tìm đọc cuốn The Story of My Life (1903) và cuốn The World I Live In (1908) của bà Helen Keller, đặc biệt là cuốn thứ hai.
Cuốn sách sẽ đem đến những góc nhìn rất riêng biệt (unique) bởi bà Helen Keller là một người “unique” như vậy.
–d.k.
Dưới đây là ghi chú:
11h25pm, ngày 28T32026: Khoảng một tuần qua mình dành thời gian đọc hai cuốn sách của bà Helen Keller (1880-1968), một người sinh ra hoàn toàn khỏe mạnh nhưng đến khi 19 tháng tuổi thì trở bệnh nặng và từ đó trở đi bị mù và điếc.
Mình đã đọc xong cuốn hồi ký The Story of My Life, xuất bản năm 1903 khi bà Keller 23 tuổi, và hiện đang đọc cuốn The World I Live In, xuất bản năm 1908 của bà.
Cuốn đầu đem đến góc nhìn về cuộc sống của bà từ khi còn nhỏ cho đến khi bà 22 tuổi; ở đó bà viết khá nhiều về trải nghiệm học của bà với cô giáo của bà cô Sullivan người, bà nói, rất quan trọng với bà.
Những gì đọc được đem đến nhiều suy nghĩ mới liên quan đến những suy nghĩ về “sense” -giác quan, về “consciousness” -ý thức, về “think” -suy nghĩ, về “thought” -ý nghĩ, về “language” -ngôn ngữ; về vai trò và sự tham gia của giác quan đến khả năng ngôn ngữ của một người; về vai trò và sự tham gia của khả năng ngôn ngữ của một người đến năng lực suy nghĩ (to think), đến việc hình thành các ý nghĩ (thoughts); và vai trò của tất cả những thứ vừa kể ra đến sự hình thành của ý thức (consciousness) của một người.
[Thêm vào sau: cảm thấy chưa thực sự hài lòng với mấy chữ “năng lực suy nghĩ”, có lẽ viết là “hiện tượng suy nghĩ” -the thinking phenomenon- thì đúng hơn]
Trong quá trình đọc hai cuốn sách, mình vừa đọc vừa suy nghĩ, vừa liên tưởng đến những ý mà trước đó tự mình đã suy nghĩ và viết trong những cái ghi chú về “Thinking on ‘think'”.
Những cái suy nghĩ là rất nhiều, và mình đã năm bảy lần viết xuống, chép xuống những suy nghĩ, những ý mới trong mấy ngày qua (khá mơ hồ và chưa rõ ý)… Nhưng cũng từ đó mà đến hôm nay, hiện giờ, cảm thấy có thể viết được xuống cái gì đó rõ hơn một chút.
Ở trong cái ghi chú này, mình sẽ tổng hợp, cô đọng lại những ý mà mình thấy đặc sắc, thấy quan trọng, thấy ở đó chứa đựng những “unique insights”… Những ý chắt lọc, chép ra từ những gì đã đọc ở hai cuốn của bà Helen Keller.
Việc chép ra này là để có được một đoạn cô đọng lại những ý chính với những thông tin mà mình thấy là những “unique insights” có được từ việc đọc sách của bà Helen Keller, từ những chia sẻ của bà Keller, nhằm phục vụ cho việc sau này nếu muốn tìm đến những ý đó thì có thể tìm và tiếp cận lại một cách tiện lợi.
1. Bà Helen Keller sinh năm 1880, đến khi khoảng gần 2 tuổi thì bà bị đổ bệnh và từ đó trở đi bà bị mù và điếc.
2. Thế giới của bà từ lúc đó cho đến lúc bà 6 tuổi, bà nói, giống như một thế giới không lời, tất cả, mọi thứ chỉ như một cảm giác không có lời (a wordless sensation); không có ngày, không có đêm; không có âm thanh, không có ánh sáng; không có suy nghĩ (thought), và cũng không có ý thức (consciousness).
3. Năm bảy tuổi cha mẹ bà tìm cho bà một cô giáo, cô Sullivan người vừa hoàn thành đợt huấn luyện ở trường dạy trẻ mù. Ở lần đầu gặp mặt cô Sullivan tặng cho bà Keller, khi ấy 7 tuổi, một con búp bê và viết vào tay bà chữ “d-o-l-l”. Viết vào tay chính là cách mà cô Sullivan dùng để dạy bà Keller. Bà Keller nói sau năm bảy tuần kể từ lúc cô Sullivan đến với bà thì bà học được tên của một số thứ như cái mũ (hat), cái chén (cup), và học được một số động từ như ngồi (sit), đứng (stand), và đi (walk); và cũng chỉ đến khi ấy bà mới lần đầu tiên hiểu ra là mọi thứ đều có một cái tên (everything has a name); những tháng tiếp theo cô Sullivan vẫn dùng cách viết như vậy để dạy bà Keller; có một lần cô Sullivan viết vào tay bà “I love Helen.” bà Keller hỏi cô Sullivan “love” là gì, nhưng khi ấy dù cô Sullivan đã giải thích bà chưa thể hiểu ngay khái niệm trừu tượng như vậy. Phải rất lâu sau, ở một dịp mà bà đang đăm chiêu suy nghĩ tìm cách xỏ cho đúng thứ tự những hạt cườm to nhỏ để làm chiếc vòng tay thì khi ấy cô Sullivan viết lên trán bà chữ “think”, bà hiểu ra chữ “think” và từ đó mà bà hiểu ra khái niệm trừu tượng và lần đầu tiên bà có ý tưởng, ý niệm (idea) về ngôn ngữ.
4. Bà Keller nói, trước khi có ngôn ngữ, trước khi có trong đầu tên đồ vật, trước khi biết rằng mọi đồ vật đều có tên, trước khi có năng lực ngôn ngữ thì bà chẳng biết gì, chẳng cảm thấy gì, chẳng có ý niệm hay suy nghĩ gì. Tất cả chỉ như một cảm giác không lời (a wordless sensation). Và bà nói tiếp rằng -đây là cái mà mình thấy nó là một insight quan trọng- mỗi từ mà bà học được đem đến cho bà thêm một ý nghĩ (a thought), và chỉ kể từ khi bà học được tên đồ vật, học được những chữ đầu tiên thì trong đầu bà mới xuất hiện những suy nghĩ để so sánh cái này với cái kia.
5. Nôm na thì việc học đã đem đến cho bà Keller năng lực ngôn ngữ, và năng lực ngôn ngữ giúp đầu óc bà “có những ý nghĩ để nghĩ”, và từ việc học và có năng lực ngôn ngữ này mà bà bắt đầu biết nghĩ, bắt đầu nghĩ. Một thời gian sau thì bà hiểu ra ý nghĩa của hai từ “I” và “me”; bà bắt đầu nghĩ; và từ đó, bà nói, bà lần đầu có được ý thức (consciousness).
—
Ngôn ngữ đặt vào đầu người ta những ý nghĩ (thoughts). Những ý nghĩ làm nên việc nghĩ (thinking). Những ý nghĩ và việc nghĩ làm nên ý thức (consciousness).
Ý thức (consciousness) khởi nguồn từ ý nghĩ (thought); ý nghĩ khởi nguồn từ ngôn ngữ; ngôn ngữ đến với người ta qua các giác quan (senses).
Những đứa trẻ bình thường thường tiếp thu ngôn ngữ từ việc nghe và nhìn (và có lẽ cả từ các giác quan khác nhưng ít hơn). Với bà Keller và những người như bà thì phải nhờ có những phương pháp đặc biệt thì bà mới tiếp thu, mới hiểu ra, mới học được ngôn ngữ.
Người bình thường nhìn thế giới bằng mắt, nghe thế giới bằng tai. Còn bà Keller nhìn (see) và nghe (hear) thế giới không bằng tai và mắt, mà bằng cảm nhận qua tay, qua xúc giác (và có lúc là vị giác).
—
Cơ bản đã viết lại, viết ra được những ý chính.
Cái note này khép lại ở đây để quay lại đọc tiếp cuốn sách của bà.
–d.k.0h10am, 29T32026.
Thêm vào một lát sau: Dưới đây là nguyên văn một hai đoạn từ cuốn sách để giúp mang đến góc nhìn chính xác hơn về những gì vừa viết ở trên:
I remember, also through touch, that I had a power of association. I felt tactual jars like the stamp of a foot, the opening of a window or its closing, the slam of a door. After repeatedly smelling rain and feeling the discomfort of wetness, I acted like those about me: I ran to shut the window. But that was not thought in any sense. It was the same kind of association that makes animals take shelter from the rain.
[…]
Since I had no power of thought, I did not compare one mental state with another. So I was not conscious of any change or process going on in my brain when my teacher began to instruct me. I merely felt keen delight in obtaining more easily what I wanted by means of the finger motions she taught me. I thought only of objects, and only objects I wanted. It was the turning of the freezer on a larger scale. When I learned the meaning of “I” and “me” and found that I was something, I began to think. Then consciousness first existed for me. Thus it was not the sense of touch that brought me knowledge. It was the awakening of my soul that first rendered my senses their value, their cognizance of objects, names, qualities, and properties. Thought made me conscious of love, joy, and all the emotions. I was eager to know, then to understand, afterward to reflect on what I knew and understood, and the blind impetus, which had before driven me hither and thither at the dictates of my sensations, vanished forever.
—
Anh chưa đọc sách của Keller mà mới chỉ xem 1 bộ phim về tuổi thơ của bả (phim đen trắng từ xưa, hình như còn có 1 bộ phim mới hơn cùng chủ đề). Theo suy nghĩ của anh thì Keller đang nói về nhận thức nhiều hơn, chứ ý thức thì bà ấy (cô bé Keller) vẫn có. Ý thức về sự tồn tại của bản thân, có cảm xúc, đau khổ. Tất nhiên khi nhận thức đc nhiều thì ý thức cũng phát triển theo, nhưng ý thức vẫn là gì đó độc lập. Nhà sử học Harari định nghĩa ngắn gọn ý thức = khả năng đau khổ (ability to suffer)
Trước khi đến được bước có ý thức về sự tồn tại của bản thân, có ý thức về cảm xúc, về đau khổ… thì anh (bà Keller) cần phải có ý niệm (idea) về những khái niệm (concepts) ấy.
Nếu như anh chưa từng được chỉ cho cái để ngồi lên có tên là “ghế”, cái để đội lên đầu có tên là “mũ”, khi đặt mông lên ghế và giữ nguyên tư thế đó thì gọi là “ngồi”, khi bỏ tư thế đó và lấy hai bàn chân làm điểm tựa cho cả cơ thể và không dịch chuyển thì gọi là “đứng”, và khi cả cơ thể di chuyển bằng hai chân với tốc độ vừa phải thì gọi là “đi”… Thì khi ấy anh có thể ngồi, đứng, đi… Nhưng trong đầu anh sẽ không hiện lên những chữ, những ý nghĩ (thoughts) đi, đứng, ngồi ấy. Giống như bây giờ anh vẫn đang có những hoạt động (ăn, uống, ngủ, đọc…) nhưng trong đầu anh chỉ hiện lên những chữ “ăn, uống, đọc…”, có thêm “eat, drink, read…” nếu anh thạo tiếng Anh, và có thêm những từ, những ý của những ngôn ngữ khác mà anh biết… Nhưng giả sử như anh không biết tiếng Lào, thì khi anh đi, đứng, ngồi, ăn, đọc… trong đầu anh sẽ không hề hiện lên “những chữ tiếng Lào cho các hoạt động ấy” bởi anh chưa biết đến những thứ ấy.
Nếu anh chưa bao giờ tiếp thu được bất kỳ ngôn ngữ nào, kể cả tiếng Việt, thì sẽ ra sao?
Trong đầu anh sẽ chẳng hiện lên gì cả, chẳng có ý niệm (thoughts) nào. Khi ấy đầu anh sẽ giống như một cái ổ cứng chưa có dữ liệu. Tai không nghe thấy gì, mắt không nhìn thấy gì thì cũng giống như chiếc máy tính bị hỏng cổng USB và mất kết nối internet: không có cách nào để tiếp thu được thông tin từ bên ngoài vào.
Những người mù và điếc bẩm sinh đã như vậy suốt hàng nghìn năm. Phải đến những năm 30s của thế kỷ 19 thì mới bắt đầu có người mù và điếc bẩm sinh đầu tiên được giải thoát khỏi cuộc sống (sự tồn tại) như vậy. Người đó là bà Laura Bridgman (1829-1889), và người đầu tiên làm được cái việc đó (dạy được cho người vừa mù vừa điếc) là ông Dr. Samuel Gridley Howe (1801-1876).
Bà Sullivan cô giáo của bà Keller chính là bạn học của bà Laura Bridgman và cũng là học trò ở trường của ông Howe. Dựa trên nền tảng là những hướng dẫn của ông Howe (cách ông đã dùng để dạy thành công cho bà Laura Bridgman) bà Sullivan đã kế thừa và có những điều chỉnh để phù hợp với bà Keller. Bởi, bà Keller nói, mỗi người mù và điếc bẩm sinh đều có những khác biệt thành ra cách dạy cũng phải được tùy chỉnh cho từng người.
Cái điều unique trong cuốn sách của bà Keller là nó giúp người đọc thấy được cái thế giới mà họ đã không còn có khả năng thấy được nữa: những năm tháng đầu đời, trải nghiệm của người ta khi người ta còn chưa có bất kỳ suy nghĩ nào…
Chúng ta ai cũng đều trải qua những năm tháng như vậy, nhưng không ai khi đã lớn rồi lại có thể nhớ được lại để viết ra… Nhưng mà bà Keller thì lại đem đến cho người đọc một chút góc nhìn như vậy.
Hồi đầu TK20 rất nhiều người có danh tiếng đã tìm đến để tìm hiểu về bà, trong số đó có cả ông William James, nhà tâm lý học hàng đầu của Mỹ thời bấy giờ.
—
Trong cuốn hồi ký thứ hai của bà Keller (XB năm 1928) bà cũng kể về trải nghiệm tham gia đoàn làm phim ở Hollywood. Bộ phim anh xem chắc là bộ phim ấy.
–d.k.
ngôn ngữ phát triển từ ý thức chứ đâu phải ngược lại. Nếu anh chưa có từ ngữ để định danh 1 vật, thì anh sẽ xác định cho nó, chứ ko phải là ko ý thức đc nó.
Ở trong đầu của chúng ta: mỗi từ ngữ là một ý nghĩ (a thought) với một cái ý nghĩa (a meaning) gắn kèm (associate) với nó.
Nếu như anh chưa có bất kỳ từ ngữ nào thì điều ấy cũng đồng nghĩa là anh không có bất kỳ ý nghĩ (thought) nào.
Không có những ý nghĩ (thoughts) thì việc suy nghĩ (thinking) không diễn ra. Nghĩ (thinking) là “lướt qua, là duyệt lại, là xem xét những ý (thoughts) đã có sẵn ở trong trí nhớ (memory). Và trong quá trình nghĩ này những ý nghĩ mới (new thoughts) hay sự tưởng tượng (imagination) thường được thêm vào và cái ý cũ (the old/existing thought) được làm mới (refresh/renew).
Ý thức: Sự nhận biết chính mình, và sự nhận biết của cái mà lúc này mình đang chú ý vào bản chất cũng là việc đang có một ý nghĩ (a thought) hiện lên trong đầu ta.
Cái ý nghĩ đó ở đây là “tôi và ta” -I & me,
Trước khi ta tiếp thu được cái ý tưởng (the idea) “tôi và ta” thì ta còn chưa biết, chưa có ý niệm (idea) gì về “tôi và ta”. Cái ý nghĩ ấy (that thought) chưa đến với ta, hay nói theo một cách khác ta còn chưa có ý thức về chính ta.
Và nói theo một cách khác: khi ta chưa biết, chưa học, chưa tiếp thu cái gì… thì ta cũng “chưa có khả năng, chưa có năng lực” để có thể có ý thức về cái cụ thể ấy. Mặc dù, ta vẫn có năng lực để ý thức (như chức năng sinh học của cơ thể) nhưng ta thiếu “nguyên liệu” nên cái đầu ra là “hiện tượng có ý thức” không được hình thành, không được xuất hiện.
Bằng việc học ngôn ngữ, ta thêm vào đầu óc ta những ý nghĩ (thoughts), những ý nghĩ này chính là nguyên liệu cho đầu óc ta, có nguyên liệu thì đầu óc ta bắt đầu cái hoạt động của nó (chính là nghĩ: thinking), khi đầu óc hoạt động thì ý thức (consciousness) hình thành/xuất hiện.
–d.k.
Anh có 2 ý: (1) có sự khác biệt giữa ngôn ngữ mà mình nói để ng khác hiểu, và ngôn ngữ của bản thân mình. Ví dụ t/h Keller thì cô ta có ngôn ngữ diễn tả suy nghĩ của mình, nhưng ko làm cho ng khác hiểu đc.
(2) từ ngữ cũng khác với ngôn ngữ. Người ta có thể hình thành các khái niệm trừu tượng và phải tìm cách dài dòng để mô tả nó trước khi tìm ra 1 thuật ngữ đủ tiện.