CÀNH ANH ĐÀO
Sự ổn định của xe đạp
Như người lao động thì người Nhật cần cù, và như người tiêu dùng thì kiềm chế… Quay lại câu này, chúng ta nhận thấy rằng đằng sau tỷ lệ tiêu dùng và tích lũy quả thực ẩn chứa một trong những động lực của sự đột phá mà Nhật Bản đã đạt được. Kể từ giữa những năm 1950, tỷ trọng tiết kiệm trong tổng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản vẫn duy trì ở mức 30–35% (so với 17–20% ở các nước phát triển khác). Nguồn gốc cho sự tích lũy vốn tăng nhanh ở Nhật Bản là gì? Làm thế nào và tại sao, để nâng cấp thiết bị và mở rộng sản xuất hàng năm, các doanh nhân Nhật Bản có thể phân bổ số tiền gần gấp đôi so với các đối thủ cạnh tranh Mỹ và Tây Âu? Đây chính là chìa khóa để hiểu được sự năng động của nền kinh tế Nhật Bản.
Yếu tố quan trọng nhất là mức tiêu dùng cá nhân thấp hơn so với các nước phát triển khác. (Và điều này, ở mức độ không hề nhỏ, cũng áp dụng cho các tầng lớp giàu có). Nhật Bản đã huy động được tối đa các nguồn lực nội bộ bằng cách giảm tỷ trọng tiêu dùng và tăng tỷ trọng tích lũy, tận dụng được nhiều đặc điểm của đất nước. Ở đây có tính hai mặt của cơ cấu kinh tế – kiểu xếp chồng lên nhau của “vách đá” và “hạt cát”, lại có một hệ thống việc làm suốt đời. Rốt cuộc, họ còn có nền tảng của đạo đức truyền thống, vốn nâng sự siêng năng trong công việc và điều độ trong cuộc sống hàng ngày lên thành đức hạnh. Trong những năm 1950 và 1960, lương của công nhân sản xuất ở Nhật Bản thấp hơn ở Mỹ bảy lần và thấp hơn ở Anh ba lần. Chỉ sau này nó mới bắt kịp mức Tây Âu, Mỹ và bây giờ thì đã vượt qua. Tuy nhiên, năng suất lao động ở Nhật Bản luôn tăng nhanh hơn tiền lương, và ở nhịp độ cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Và dù câu chuyện về giá nhân công rẻ ở Nhật Bản đã lỗi thời từ lâu, thì dù sao lao động ở đất nước này vẫn rẻ – rẻ so với chất lượng đi cùng: trình độ, tận tâm, hiệu quả.
Nhật Bản còn có một đặc điểm rất độc đáo nữa: mức tiêu dùng cá nhân thấp ở đất nước này đi kèm với mức tiết kiệm cá nhân rất cao. Người Nhật không thể bị gọi là người keo kiệt, bủn xỉn hay tính toán nhỏ mọn. Theo quan điểm của người Mỹ, họ thậm chí còn xem nhẹ tiền bạc. Tuy nhiên, một gia đình Nhật Bản tiết kiệm hơn 15% thu nhập của mình – gần gấp ba lần so với một gia đình Anh hoặc Mỹ. Chính cuộc sống buộc người Nhật phải sống tiết kiệm như vậy. Tiền trước hết phải được tiết kiệm cho tuổi già do hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản chưa hoàn thiện. Họ cũng phải tiết kiệm cho việc học tập của con cái, vì thứ nhất, nó rất tốn kém và thứ hai, nó rất quan trọng cho sự nghiệp của chúng.
Truyền thống quan tâm đến tiết kiệm được tạo ra bởi cả những lý do khác: sự đắt đỏ của nhà ở, chăm sóc y tế, thói quen chi những khoản tiền vô độ cho đám cưới và đám tang, và mối đe dọa thường trực của thiên tai. Mặt khác, một số đặc thù về lương ở đây cũng giúp người Nhật tiết kiệm. Theo truyền thống hiện có, người sử dụng lao động hạ thấp các khoản trả hàng tháng với tính toán sao cho người lao động không nhận được 12, mà chẳng hạn, 15 tháng lương trong năm. Hai trong số đó được trả dưới hình thức thưởng trước Tết, và một tháng lương vào giữa mùa hè. Các gia đình sử dụng một phần số tiền này để mua sắm theo mùa, nhưng từ một nửa đến hai phần ba thường được để dành dưới dạng tiết kiệm.
Không giống như người Mỹ thích mua cổ phiếu, người Nhật thường giữ tiền tiết kiệm dưới dạng tiền gửi. Những khoản này được sử dụng rộng rãi để cho vay đối với nền kinh tế Nhật Bản. Hơn nữa, các ngân hàng thương mại tư nhân, nơi có phần lớn dòng tiền tiết kiệm cá nhân, có thể tính toán tình hình chung xa hơn nhiều so với các cổ đông nhỏ, và do đó sử dụng nguồn vốn này với hiệu quả cao nhất. Như vậy, người lao động Nhật Bản thúc đẩy cỗ máy doanh nghiệp tư nhân, trước hết là do họ nhận được ít hơn so với năng suất của mình, và thứ hai là do họ không chi tiêu mà để lại một phần đáng kể thu nhập vốn đã bị hạ thấp của mình trong lưu thông ngân hàng.
Còn doanh nhân Nhật Bản thì sao? Họ có thể hiện xu hướng hạn chế bản thân, tiết kiệm cho ngày mai số tiền mà lẽ ra thể dùng hôm nay không? Hoàn toàn ngược lại. Họ được đặc trưng bởi một đặc điểm hoàn toàn trái ngược: sẵn sàng liên tục lún sâu trong nợ nần. Tuy nhiên, nói “lún sâu” có lẽ vẫn chưa đủ. Các khoản nợ của các công ty Nhật Bản lớn gấp nhiều lần số vốn của họ. Mà chúng ta đang không hề nói về vài doanh nghiệp nhỏ đang trên bờ vực phá sản. Mức nợ này là đặc trưng cho cả “hạt cát” lẫn “vách đá”. Vốn của một công ty Nhật Bản thường bao gồm 80% vốn vay ngân hàng và chỉ 20% vốn cổ phần. Nhưng ở Mỹ và Tây Âu, tỷ lệ ngược lại mới được coi là bình thường. Liệu một tập đoàn Nhật Bản có thể tồn tại bền vững nếu cấu trúc tài chính giống như kim tự tháp ngược như thế?
– “Có thể,” các doanh nhân Nhật Bản trả lời, – “nếu công ty, giống như một chiếc xe đạp, được tăng tốc đủ tốt”.
Thật vậy, những màn nhào lộn tài chính như vậy đòi hỏi tốc độ cao – nếu không thì điều đó là không tưởng. Nhận khoản vay ngân hàng với lãi suất rất cao, doanh nhân Nhật Bản buộc phải dựa vào tốc độ tăng trưởng sản xuất nhanh chóng, tìm kiếm những cách triệt để nhất để tăng năng suất lao động và trang bị lại nhà xưởng hết lần này đến lần khác, ngay cả khi điều này đồng nghĩa với việc nợ nần ngày càng lún sâu hơn.
Nhưng bằng cách dựa nhiều vào các khoản vay ngân hàng hơn là vốn cổ phần, một công ty Nhật Bản có thể chú trọng hơn đến triển vọng dài hạn hơn là lợi nhuận hiện tại. Vì yêu cầu của cổ đông về cổ tức hàng năm trong trường hợp này là ít quan trọng, nên các nhà quản lý can đảm hơn trong việc hy sinh tiền tiết kiệm cho thành công trong tương lai. Họ sẵn sàng bỏ ra một khoản chi phí lớn mà sau này mới có thể trả hết để đào tạo lực lượng lao động cho những ngành nghề mà vài năm nữa mới cần đến.
Việc các tập đoàn công nghiệp hàng năm cập nhật một phần quan trọng thiết bị của họ đã trở thành thông lệ. Thứ nhất, nhờ vậy mà nhu cầu sản xuất ở thị trường trong nước không ngừng được duy trì. Và thứ hai, với việc tích cực cập nhật cơ sở kỹ thuật như vậy, hiệu quả sản xuất sẽ tăng lên. Người Nhật đùa cợt gọi nền kinh tế này là “kinh tế xe đạp”: để giữ thăng bằng, bạn cần phải lao về phía trước.
So với các chuẩn mực được thiết lập ở phương Tây, chiến thuật của các nhà công nghiệp Nhật Bản có vẻ dũng cảm, táo bạo và mạo hiểm. Hơn nữa, những phẩm chất này cũng hoàn toàn có thể quy cho các chủ ngân hàng Nhật Bản. Họ không ngần ngại cung cấp các khoản vay mới mà không đợi khoản vay cũ được hoàn trả đầy đủ. Việc cho vay tới 95% tiền gửi không phải là hiếm đối với các ngân hàng thương mại Nhật Bản. Trong khi ở các nước khác, hành động như vậy được coi là phiêu lưu. Các khoản nợ gấp bốn lần vốn của công ty sẽ khiến nhà công nghiệp phương Tây – và chủ ngân hàng của ông ta – phải mất ngủ nhiều đêm. Ở Nhật Bản, chính loại nợ và tái nợ này – mà cả hai bên đều đồng ý – đã giúp các ngành công nghiệp phát triển và hiện đại hóa nhanh chóng.
Làm sao chúng ta có thể giải thích cách làm táo bạo, thậm chí đầy rủi ro như vậy trong việc cấp vốn cho các doanh nghiệp Nhật Bản? Trên thực tế, sự dũng cảm này trông không hề liều lĩnh chút nào khi xét rằng việc nhào lộn tài chính của doanh nghiệp tư nhân ở Nhật Bản được nhà nước bảo hiểm, hỗ trợ và chỉ đạo. Chính sự phụ thuộc của các doanh nhân Nhật Bản vào ngân hàng đã giúp các cơ quan chính phủ điều tiết phương hướng và tốc độ phát triển kinh tế. Khoản nợ khổng lồ và liên tục của các công ty Nhật Bản chính là dây cương mà chính phủ có thể kiểm soát doanh nghiệp tư nhân.
Vì 4/5 vốn của doanh nghiệp là từ các khoản vay ngân hàng nên mức độ hoạt động kinh doanh dễ được điều tiết hơn. Bằng cách giảm hoặc tăng lãi suất cho vay, nghĩa là làm cho các khoản vay trở nên dễ tiếp cận hơn hoặc khó tiếp cận hơn, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản dường như đã nhấn vào các bàn đạp khác nhau của cỗ máy kinh tế đất nước, hoặc tăng tốc hoặc làm chậm lại sự chuyển động của nó.
Liệt kê các nguồn tích lũy vốn tăng nhanh ở Nhật Bản, trước tiên, chúng ta đã lưu ý về mức tiêu dùng cá nhân thấp trong khi tỷ lệ tiết kiệm cá nhân cao. (Có thể nói thêm rằng, do một số đặc điểm trong lối sống của người Nhật, mức tiêu dùng ăn bám ở tầng lớp thượng lưu trong xã hội khiêm tốn hơn đáng kể so với ở Hoa Kỳ và Tây Âu). Chúng ta cũng đã nói về tỷ lệ vốn vay cao, việc các doanh nhân Nhật Bản sẵn sàng vay nợ sâu để nâng cao trình độ sản xuất, và vai trò tích cực của sự điều tiết của chính phủ. Nhưng còn một bối cảnh nữa: mức chi tiêu chính phủ tương đối thấp. Kết quả là thuế nhà nước và địa phương chiếm 16% tổng sản phẩm quốc nội ở Nhật Bản, so với 24% ở Hoa Kỳ và 39% ở Anh. Tất nhiên, điều này bị ảnh hưởng bởi thực tế là, trước hết, trong suốt những năm sau chiến tranh, Nhật Bản chỉ chi khoảng 1% GDP cho nhu cầu quân sự. Thứ hai, một yếu tố không còn có thể gọi là tích cực, đó là tỷ trọng chi cho nhu cầu xã hội trong ngân sách nhà nước Nhật Bản rất thấp. (Con số này thấp hơn hai đến ba lần so với ở Anh và các nước Tây Âu khác).
Chúng ta hãy lưu ý một đặc điểm đáng chú ý khác nữa của nền kinh tế Đất nước Mặt trời mọc. Việc du nhập rộng rãi tư tưởng kỹ thuật nước ngoài, điều mà các doanh nhân Nhật Bản dựa vào, không đi kèm với làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài rộng rãi tương ứng. Người Nhật sẵn sàng vay tiền ở nước ngoài, họ không tiếc tiền mua giấy phép và bằng sáng chế, nhưng phản đối bằng mọi cách có thể sự xuất hiện của các doanh nghiệp do người nước ngoài điều hành trên đất Nhật Bản. Nhật Bản đã trở thành một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm khi cho rằng sự phát triển kinh tế của nước này hoàn toàn phụ thuộc vào ngoại thương.
Nghịch lý là, Nhật Bản ngày nay ít phụ thuộc vào xuất khẩu hơn so với những năm 1930, khi hàng dệt may giá rẻ mà nước này bán ở châu Á chiếm tới 30% GDP. Hầu hết ô tô hiện đại và tivi màu của Nhật Bản đều dành cho đường phố và các ngôi nhà ở Nhật.
Năm 1851. Tòa soạn tạp chí Economist ở London. Tác giả bài xã luận đi đến bên cửa sổ, nhìn xuống con phố tấp nập, nơi mỗi ngày càng có nhiều cỗ xe ngựa bảnh bao, vì nền kinh tế của Đế quốc Anh đang ngày càng tăng tốc. Tác giả quay lại bàn, trầm ngâm vuốt râu rồi lại cầm bút lên. Ông viết rằng trong tương lai gần, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ sẽ vượt qua Vương quốc Anh về sản lượng hàng năm.
– “Nhưng điều này đơn giản là không thể được, ông già ạ!” – mọi người cười khùng khục trong các quán rượu ở London. Suy cho cùng, họ đang ở ngay chính trung tâm của cường quốc công nghiệp đầu tiên trên thế giới, nơi quá trình công nghiệp hóa bắt đầu vào cuối thế kỷ 18, đưa nền kinh tế Anh thống trị thế giới trong gần như toàn bộ thế kỷ 19.
Hai thập kỷ sau sự sụp đổ đã được dự đoán trước, các quán rượu ở London vẫn hoạt động rầm rộ. Xét cho cùng, Vương quốc Anh vẫn chiếm 1/4 thương mại thế giới và 1/3 sản lượng công nghiệp toàn cầu. Nó luyện ra nhiều gang hơn tất cả các nước khác cộng lại. Nó sở hữu 2/5 đội tàu buôn của thế giới. London vẫn là một trung tâm tài chính được công nhận trên thế giới.
Nhưng hoàng hôn đang đến một cách không thể tránh khỏi. Trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng thấp ở Anh, Hoa Kỳ tiếp tục lao về phía trước. Và đến năm 1913, thời đại của Anh đã kết thúc. Anh vẫn là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Không ai có thể sánh được với nó về quy mô đầu tư nước ngoài. Nhưng trong các quán rượu, họ buộc phải càu nhàu thừa nhận: Hoa Kỳ đã trở thành quốc gia số một về sản lượng hàng năm, và khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp Anh so với ngành công nghiệp Mỹ chỉ còn là một kỷ niệm đẹp.
Nhưng thời đại của Mỹ hóa ra còn ngắn hơn thời đại của Anh. Với lý lẽ thậm chí còn chắc chắn hơn so với đồng nghiệp ở tòa soạn Economist vào năm 1851 ở London, có thể dự đoán rằng Nhật Bản sẽ sớm vượt qua Hoa Kỳ về một chỉ số quan trọng như sản lượng bình quân đầu người.
Không rõ người Mỹ sẽ hành xử thế nào trong tình huống như vậy. Liệu anh ta có bị cám dỗ để ngáng chân người Nhật đang vượt qua không? Khi người Anh mất chức vô địch, thì không hề có chuyện đó. (Tại sao phải ầm ĩ lên? Đâu phải thi đấu cricket!) Ở một đất nước mà hoạt động kinh doanh chưa bao giờ đặc biệt gần gũi với lòng người dân, thì nguy cơ xảy ra một cú sốc quốc gia là rất ít. Với người Mỹ thì lại khác. Anh ta hoàn toàn tập trung vào sự thành công từ khi còn nhỏ, từ đồng đô la đầu tiên kiếm được do đi giao báo. Bất chấp mọi rắc rối của những thập kỷ sau chiến tranh: bất ổn chủng tộc, suy thoái đô thị, người Mỹ luôn có thể xoa dịu nỗi cay đắng của mình bằng viên kẹo “Dù sao đi nữa, nhưng nền kinh tế của chúng ta vẫn hiệu quả nhất thế giới. Thật vậy, xét về sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân đầu người hàng năm, Hoa Kỳ vượt xa các nước khác.”
Và bây giờ ngay cả chiếc kẹo quý giá này cũng trôi vào miệng người Nhật đang há ra.
Hakan Hedberg (Thụy Điển). Sự trả thù của Nhật Bản. 1972
Thật khó để mong đợi rằng người Mỹ, vốn quen coi Hoa Kỳ là quốc gia số một, lại thừa nhận rằng trong nhiều lĩnh vực, vị thế đứng đầu này đã bị mất đi trước một quốc gia châu Á, chứ chưa nói đến chuyện họ sẽ bắt đầu học hỏi từ quốc gia này. Người Mỹ sẵn sàng chấp nhận bất kỳ lời giải thích nào về thành công kinh tế của Nhật Bản miễn là lời giải thích đó tránh không thừa nhận sự vượt trội của Nhật trong cuộc cạnh tranh.
Sẽ dễ dàng hơn nhiều khi giải thích mọi thứ bằng cách nói rằng Nhật Bản đang sao chép công nghệ phương Tây, rằng các công ty Nhật Bản bán hàng hóa của họ với giá thấp, rằng họ thành công vì được chính phủ trợ cấp và trả lương ít ỏi, hoặc các công ty Nhật Bản xuất khẩu hàng hóa của họ sang Hoa Kỳ vi phạm các quy định hải quan. Sẽ thuận tiện hơn nhiều nếu nhắm mắt làm ngơ trước những thập kỷ hiện đại hóa nhất quán của Nhật Bản, đến hiệu quả của nền kinh tế, khả năng tiếp thu công nghệ mới, đến sự kiên trì phát triển thị trường mới, đến lực lượng lao động có kỷ luật của nước này. Sẽ thuận tiện hơn nhiều khi không thắc mắc tại sao các doanh nhân Nhật Bản lại mang hàng hóa sang Mỹ nếu họ thực sự bán chúng dưới giá thành. Thật khó chịu khi phải thừa nhận rằng người Nhật đã đánh bại chúng ta trong cạnh tranh kinh tế nhờ sự vượt trội và quyết tâm, tính tổ chức và sự siêng năng.
Ezra Vogel (Mỹ). Nhật Bản như là số một. Bài học cho nước Mỹ. 1979
Xem tiếp phần sau: Tiến bộ nhờ hài hòa
Pingback: Cây anh đào và cây sồi (phần 23) - Phan Phuong Dat