Category Archives: X. hội & G. dục

Các bài viết về xã hội và giáo dục nói chung

Đi rộng và đi sâu (Across and within)

Một bài viết gợi suy nghĩ của Seth Godin. Ổng nhắc lại lý thuyết của Innis về 2 chiều lan tỏa của văn hóa – không gian và thời gian, giải thích tại sao AI ko phải là một phương tiện truyền thông (thao túng) mới, mà là cơ hội để mọi người làm chủ và đi sâu vào trong bản thân, thay vì “đi rộng” qua các mạng xã hội thao túng, cam tâm tiếp tục làm những con cừu và hài lòng vì thấy nhiều cỏ hơn.

Với mỗi nội dung ta tạo ra, ta có thể tự hỏi là đang đi rộng theo không gian hay đi sâu theo thời gian, tự hỏi là liệu sau 6 tháng 1 năm thì nội dung đó có còn giá trị? Góc nhìn này khá giống với khái niệm stock và flow trong truyền thông, được đề cập trong bài này.

Continue reading

“Đó mới chính là vấn đề”

(Bài đăng Facebook cá nhân 20/11/2024)

Coach Carter là một bộ phim do Samuel L Jackson thủ vai chính, dựa trên một câu chuyện có thật. Carter nhận lời làm HLV cho đội bóng rổ của trường cấp 3 Richmond, và biến đội bóng từ một nhóm rời rạc, thường xuyên thua, thành một đội đoàn kết, chiến thắng và giành cúp.

Chuyện ko có gì đặc biệt nếu chỉ dừng ở đó. Richmond là một trường có thành tích học tập rất kém, với chỉ 6% học sinh vào được đại học. Đa số mọi người, kể cả hiệu trưởng và phụ huynh, đã chấp nhận tình trạng đó, nên rất ngạc nhiên thậm chí tức giận khi biết Carter yêu cầu các cầu thủ phải có kết quả học tập đủ cao, phải đi học đủ tiết, và ngồi bàn đầu, thì mới được vào đội bóng.

Carter làm thế vì ông muốn sau này các học sinh sẽ được vào đại học, thay vì vào tù hay thậm chí chết sớm trong các hoạt động tội phạm đường phố, như chuyện vẫn xảy ra trước nay. Ông cực đoan đến mức, khi biết các học trò học hành chểnh mảng, đã không cho chúng luyện tập và thi đấu giải, chấp nhận bị xử thua. Rốt cuộc bọn nhỏ đã chịu học, vẫn thi đấu xuất sắc, và đều được vào đại học.

Điều gây ấn tượng với tôi là đoạn hội thoại ngắn giữa Carter và cô hiệu trưởng. Khi biết ổng cấm bọn trẻ thi đấu, có khả năng mất chức vô địch giải bóng, cô hiệu trưởng gặp ổng nói:

– Ông có biết, ông đang tước mất thành quả quan trọng nhất đời của chúng? Carter đã trả lời:

– Theo tôi, đó mới chính là vấn đề, cô có nghĩ vậy ko?

Mọi mối quan tâm, mọi sự chú ý của người lớn dồn vào thành quả nhất thời của bọn nhỏ (và tất nhiên đem lại niềm vui và sự hãnh diện cho họ), và đó là điều có thể tước đi tương lai của lũ trẻ.

Tôi thử phân loại các giáo viên theo 2 chiều như hình kèm theo. Trục hoành là mối quan hệ giữa GV và học trò (có thể gọi là Tâm), trục tung là định hướng của GV đến việc dạy trẻ (có thể gọi là Trí). Người thầy mà chúng ta muốn nằm ở góc trên bên trái.

Nhân 20/11, xin chúc các thầy cô những điều tốt đẹp nhất, để các thầy cô nhân lên để rồi mang chúng đến cho học trò.

PS. Có rất nhiều bộ phim hay về chủ đề giáo dục, có thể giúp các thầy cô chiêm nghiệm. Tôi có lập một danh sách và cho điểm, ai quan tâm có thể tham khảo theo link.

“Câu chuyện của cảm xúc” – thể loại văn học của Alexievich

Lời ND: bài viết này giải thích rất dễ hiểu về thể loại văn học của Alexievich, nhà văn Belarus được giải Nobel Văn chương 2015. Ở Việt Nam cũng có một vài nhà văn viết theo thể loại này.

Ảnh từ bài gốc
Continue reading

Đởm lượng

Ghi chú về một số từ quan trọng trong cuốn Grit: the Power of Passion and Perseverance của Algela Duckworth, tựa của bản dịch tiếng Việt là “Vững tâm bền chí ắt thành công. Grit. Sức mạnh của đam mê và kiên trì”.

Grit nên dịch là gì?

Bản tiếng Việt dịch grit là Bền bỉ. Đồng thời dịch perseverance là Kiên trì. Hai từ này tạo cảm giác giống nhau khi đọc. Ngoài ra còn có thêm Vững tâm và Bền chí, khiến cho mọi thứ cứ na ná nhau hết cả.

Một phiên bản dịch grit sang tiếng TQ là Đởm lượng (hoặc Đảm lượng, 胆量). Đởm là mật, Đởm lượng là kiểu Lớn mật. Từ Đởm lượng được dùng nhiều trong truyện kiếm hiệp. Theo lời kể của Việt Phương, tướng Nguyễn Sơn từng phát biểu trong một cuộc họp giai đoạn Toàn quốc kháng chiến: “Cuộc chiến sắp tới sẽ lâu dài tàn bạo vô cùng. Phần thắng chỉ giành cho ai đủ ý chí, đởm lượng.

Như vậy, grit có thể được dịch là Đởm lượng.

Perseverance nên dịch là gì?

Trong sách, tác giả đề xuất công thức Grit = Passion & Perseverance. Passion dịch là đam mê, còn perseverance nên dịch là gì?

Tiếng Anh có hai từ có nghĩa rất gần nhau: persistence và perseverance. Nếu dịch ra tiếng TQ, ta có thể có phương án Kiên trì 坚持 và Nghị lực 毅力.

Hai từ tiếng Anh này khác gì nhau? Có một giải thích dễ hiểu và phù hợp với nội dung cuốn sách: persistence là khi bạn theo đuổi làm một việc gì đó mà bạn biết trước là kết quả sẽ như thế nào, còn perseverance là bạn theo đuổi làm một việc mà bạn KHÔNG biết là kết quả sẽ thế nào. Như vậy, perseverance thường là một quá trình kéo dài hơn rất nhiều, và – khác với persistence – có thể khiến bạn bỏ cuộc vì thấy tương lai mờ mịt. Như vậy, nếu nói về theo đuổi đam mê, theo đuổi sự nghiệp, thì perseverance sẽ là từ phù hợp hơn, vì không rõ kết quả trông sẽ thế nào.

Vậy thì nên dịch perseverance là Nghị lực, còn Kiên trì thì dành cho persistence. Ta có:

Grit = Passion & Perseverance
Đởm lượng = Đam mê & Nghị lực

“Điệu valse năm 39”

75 năm trước, ngày 23/8/1939 Liên xô và Đức ký Hiệp ước không xâm lược, có tên là Hiệp ước Molotov – Ribbentrop, khởi đầu cho chiến tranh thế giới thứ hai (xem thêm link)

Năm 1988, Alexander Gorodnitsky sáng tác bài hát “Điệu valse năm 39” về sự kiện này. Dưới đây là bản dịch lời, clip bài hát cuối bài.

Alexander Gorodnitsky
“Điệu valse năm 39”
(1988)

Vàng của điện Kremlin rực sáng.
Gió thảo nguyên thổi tới từ Volga.
Bộ trưởng Ngoại giao Molotov của ta
Tiếp đãi bạn bè từ Berlin đến.
Bản đồ thế giới chúng ta cùng vẽ lại,
Yến tiệc xa hoa và hầu cận đang chờ.
Kìa nữ hoàng bale Ulanova đang nhận
Từ tay Ribbentrop bó cúc đẹp khổng lồ.

Và người thợ Balan ở Lublin không hay biết
Rằng sẽ không bao giờ còn được cắt và may
Rằng gia đình anh sẽ bị diệt nay mai,
Tất cả sẽ vào lò thiêu Quốc xã
Và các sinh viên ở Tallinn không biết
Cùng người làm vườn tóc bạc Litva,
Rằng họ sẽ thối rữa theo lệnh Stalin
Giữa đầm lầy Turukhansk lạnh giá.

Hiệp ước không xâm lược đã ký rồi –
Đã đến lúc rượu vang đầy ly rót.
Toàn bộ châu Âu ta chia chác xong rồi –
Ngày mai sẽ chia phần Châu Á!
Những vị khách nhìn Koba* e ngại.
Trong tiếng dân hò reo sau bức tường thành.
Lãnh tụ vĩ đại đang nâng lên ly rượu
Uống mừng sức khỏe Quốc trưởng Đức nơi xa.

Phan Phương Đạt chuyển ngữ.

Koba = tên gọi của Stalin.

Trong bài hát còn có 2 câu lấy từ một bài hát cổ động năm 1939: “Nếu ngày mai có chiến tranh, nếu ngày mai lên đường hành quân / thì hãy sẵn sàng từ hôm nay”

Andrew Carnegie. Phúc âm về sự giàu có (1889)

Bài viết này ban đầu có tiêu đề đơn giản là “Wealth” và được xuất bản trên tờ North American Review vào tháng 6/1889, được in lại trong Andrew Carnegie, The Gospel of Wealth and Other Timely Essays, ed. Andrew C. Kirkland (Cambridge, Mass.: 1962). Bài tiểu luận “Phúc âm về sự giàu có” của Andrew Carnegie được coi là một tài liệu nền tảng trong lĩnh vực từ thiện. Carnegie tin vào việc người giàu nên cho đi của cải khi còn sống, và bài tiểu luận này bao gồm một trong những câu nói nổi tiếng nhất của ông, “Người chết giàu như vậy là chết trong nhục nhã”. Đến nay, thông điệp của Carnegie tiếp tục gây tiếng vang và truyền cảm hứng cho các nhà lãnh đạo và nhà từ thiện trên khắp thế giới. Xin giới thiệu với độc giả Việt Nam bản dịch đầy đủ.

Continue reading

Niềm tin bị lật ngược

Trong phần lớn lịch sử loài người, rất khó để xác định liệu điều mà ai đó nói với ta có đúng hay không. Ta có nên tin họ không? Câu trả lời phụ thuộc vào một số yếu tố: liệu tuyên bố đó có phù hợp với những gì ta đã tin là đúng hay không? Người nói có đáng tin cậy không? Trước đây họ có thành thật không? Họ cả tin hay hoài nghi về bản thân? Có ai khác có thể xác nhận những gì họ tuyên bố? Bằng chứng trông thế nào, và ta có thể kiểm tra nó không?

Việc kiểm tra những khẳng định về điều gì đó xảy ra trong quá khứ gần thì dễ. Rất khó để kiểm tra lời khẳng định về điều gì đó vừa xảy ra, đặc biệt nếu nó xảy ra ở xa. Vì lẽ đó mà ngày xưa tin đồn lan tràn. Một người nào đó mà họ tin tưởng đã kể cho họ nghe điều gì đó mà họ đã nghe được từ một người mà họ tin tưởng, và giờ họ đang kể cho bạn nghe. Trên thực tế, trước thời đại in ấn, chuỗi giao tiếp này là cách truyền tải chủ yếu hầu hết thông tin, và cực kỳ khó để lọc ra đâu là đúng, đâu là phóng đại hay sai.

Việc phát minh ra nhiếp ảnh đã thay đổi tình trạng này. Chúng ta đã đi đến niềm tin rằng bức ảnh là bằng chứng của sự thật. Bạn có thể khẳng định điều gì đó và tôi có thể không tin, nhưng nếu bạn cho tôi xem một bức ảnh về nó, thì tôi PHẢI tin. Một bức ảnh về mặc định là đáng tin cậy, trừ khi bị sửa đổi một cách rõ ràng, trái ngược với từ ngữ vốn dễ bị uốn nắn. Khi bạn xem một bức ảnh, nó vô tội, trừ khi được chứng minh là có tội. Video có cùng mặc định. Video vốn đã chân thực, trừ khi được gắn nhãn khác.

Sự xuất hiện của AI thế hệ mới đã lật ngược tính chân thực trở lại như thời xưa. Bây giờ khi ta nhìn thấy một bức ảnh, ta sẽ cho rằng đó là ảnh giả, trừ khi được chứng minh ngược lại. Khi xem video, ta cho rằng video đó đã được thay đổi, được tạo sinh, có hiệu ứng đặc biệt, trừ khi được xác nhận khác. Mặc định mới cho tất cả hình ảnh, bao gồm cả ảnh chụp, là chúng là hư cấu – trừ khi chúng được tuyên bố rõ ràng là có thật.

Tuyên bố về tính xác thực này có thể đến theo nhiều cách. Càng ngày, nguồn gốc của một hình ảnh sẽ càng được nhúng vào metadata của nó. Nó sẽ ghi mã nguồn gốc của mình là hình ảnh được tạo sinh hay hình ảnh nguyên bản, không bị thay đổi, từ một máy ảnh đáng tin cậy. Thứ hai, một hình ảnh có thể tuyên bố nguồn gốc của nó. Người hoặc tổ chức cung cấp hình ảnh có đáng tin cậy trong quá khứ không?

Chúng ta sẽ thấy rằng mặc định “tin tưởng trước, kiểm tra sau” chỉ là một sự bất thường ngắn hạn tạm thời trong lịch sử lâu dài của con người. Ta đang quay trở lại trạng thái mà ta đã ở trong phần lớn thời gian của loài người, khi chúng ta “kiểm tra trước, tin tưởng sau”. Sự tin tưởng đã bị lật ngược. Mới gần đây thôi, phản ứng mặc định ban đầu của ta đối với một bức ảnh là tin rằng nó là thật, trừ khi được chứng minh là giả. Bây giờ, phản ứng mặc định của ta đối với một hình ảnh là không tin vì cho là hình ảnh giả, trừ khi nó được chứng minh là thật.

Dịch từ nguồn: Kevin Kelly. The Trust Flip

Quan hệ liên cá nhân tốt đẹp là quan hệ trị liệu tâm lý

Trong sách Động lực và Nhân cách của Maslow có một chương đặc biệt mà tôi rất thích. Đó là Chương 15 với tựa đề Trị liệu tâm lý, sức khỏe và động lực. Trong chương này, tác giả bàn về trị liệu tâm lý từ góc nhìn của lý thuyết động lực, và vai trò của các mối quan hệ liên cá nhân trong trị liệu tâm lý. Một vài ý mà tôi thu hoạch được:

1. Trị liệu tâm lý theo phân tâm học là liệu pháp thấu hiểu (insight), giúp thân chủ nhìn thấy và hiểu được các xung lực, các vấn đề của bản thân mà trước nay họ không nhận ra vì nhận thức của họ bị bóp méo. Để làm được việc này, nhà trị liệu phải được đào tạo rất kỹ và đáp ứng nhiều điều kiện khác nhau, do đó không thể trông chờ vào số lượng các nhà trị liệu giỏi.

2. Ngoại trừ các trường hợp loạn thần kinh, đa số những người cần trị liệu (hay phân tích, hay tư vấn) tâm lý là những người không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản theo lý thuyết Maslow. Đó là các nhu cầu bậc cao hơn, ví dụ cảm giác thân thuộc, được yêu thương, tự tôn, tự hiện thực hóa. Nếu một mối quan hệ trị liệu nghiệp dư có thể giúp họ dần thỏa mãn những nhu cầu này, thì cũng sẽ có kết quả. Và người kia cũng sẽ có sự thấu hiểu hơn về bản thân.

3. Các nhu cầu cơ bản như thân thuộc, tôn trọng, v.v. không thể được thỏa mãn nếu không có những người khác. Không thể thỏa mãn bằng việc tương tác chỉ với thiên nhiên hay động vật. Nhu cầu chỉ được đáp ứng thông qua người khác.

4. Mối quan hệ trị liệu như thế có thể đến từ bất kỳ ai. Thực tế là từ xưa đến nay, khi người ta không hề biết đến, hoặc không thể tiếp cận, nhà trị liệu chuyên nghiệp, thì người ta vẫn tìm đến những nhà tư vấn tâm lý tự phát – một người bạn, một già làng, người bác tốt bụng, thầy giáo được kính trọng, nhà tu hành, v.v. Những người này, không ý thức rằng mình đang trị liệu tâm lý, đã cho người kia cảm giác được lắng nghe, được che chở, tôn trọng, v.v. và rốt cuộc đã “chữa lành”. Như vậy, mọi mối quan hệ liên cá nhân tốt đẹp đều là quan hệ trị liệu tâm lý.

5. Vì vậy, người có nhu cầu trị liệu không nên nhìn nhận trị liệu tâm lý như một việc gì đó bất đắc dĩ, thậm chí đáng xấu hổ, kiểu như phải đi khám chữa bệnh. Thay vào đó, nên tận dụng các mối quan hệ tốt đẹp. Những người có thể trị liệu không chuyên cho người khác thì nên tìm cách tự đào tạo, để thấu hiểu và có thể làm tốt hơn.

6. Khi đó, các nhu cầu về trị liệu sẽ được giải quyết ở quy mô rộng, các nhà trị liệu chuyên nghiệp có thể dành công sức cho những ca khó, ví dụ cho những trường hợp loạn thần kinh, khi mà trong họ các nhu cầu cơ bản bị thay thế bởi các nhu cầu quái lạ sinh ra do loạn thần kinh.

Đọc xong chương này và sách này, tôi thấy tự tin hơn trong việc có thể hỗ trợ về tâm lý cho những người có nhu cầu và muốn được tôi giúp đỡ. Theo Maslow, khi đó tôi đang tham gia vào lực lượng thiện lành, góp phần bé nhỏ giúp làm giảm tình trạng rối loạn tâm lý trong xã hội. Có thể đó cũng là một nhu cầu tự hiện thực hóa của tôi.

Tất cả mọi người, các bố mẹ, các thầy cô giáo, v.v. nếu muốn đều có thể tự học để trở thành một nhà trị liệu nghiệp dư như vậy, để giúp đỡ hiệu quả cho những người thân quen của mình, nhất là trong bối cảnh gia tăng của các trường hợp cần được hỗ trợ.

Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội bán dẫn như thế nào?

Bán dẫn đang là một chủ đề siêu hot ở Việt Nam hiện nay. Nhiều ý kiến cho rằng Việt nam có một cơ hội to lớn để phát triển kinh tế, phát triển công nghệ, bắt kịp với các nước phát triển. Nhưng ít người biết rằng Việt nam đã bỏ lỡ một cơ hội như thế trong quá khứ. Việc ôn lại quá khứ là cần thiết để học bài học cho hiện tại.

Continue reading