Dưới đây là nội dung các Lời giới thiệu trong bản dịch cuốn sách Thương cho roi cho vọt? của Alice Miller, bao gồm:
- Lời giới thiệu của người dịch bản tiếng Việt
- Lời nói đầu của tác giả cho ấn bản tiếng Anh năm 2002
- Lời nói đầu của tác giả cho ấn bản Mỹ năm 1982
- Lời nói đầu của tác giả cho ấn bản đầu tiên năm 1980

Xem thêm: danh mục sách của Alice Miller.
Lời giới thiệu của người dịch
“Làm điều tốt nhất vì con” – có lẽ đó là nhiệm vụ mà những người làm cha mẹ luôn tự đặt ra trong suốt hành trình nuôi dạy con của mình. Chúng ta tìm tới nhiều phương pháp giáo dục, nuôi dạy của nhiều nền văn hoá khác nhau và áp dụng theo những chuyên gia trong đó, để mong đem con mình phát triển tốt nhất. Tuy nhiên, từ bản thân tôi, tôi nhận thấy để có thể làm được điều tốt nhất vì con, câu hỏi lớn nhất có lẽ là “thế nào là điều tốt nhất cho con”. Bằng không, chúng ta cứ tìm kiếm và theo đuổi mãi một phương thức lý tưởng nào đó.
Tôi nghĩ rằng mình chỉ phần nào tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này khi tiếp cận với cuốn sách này, có tựa đề tiếng Anh “For Your Own Good” – cuốn sách của nhà tâm lý học Alice Miller. “For Your Own Good” không phải là một cuốn sách nuôi dạy con, nhưng chắc hẳn là một cuốn sách cần thiết mà cha mẹ nên đọc. Nằm trong bộ sách tâm lý gây tiếng vang của Miller, cuốn sách đi sâu vào phân tích cái mà bà gọi là “phương pháp sư phạm độc hại” (poisonous pedagogy) – một hệ thống tư tưởng sư phạm nghiêm khắc, kỷ luật, nhằm giáo dục, uốn nắn trẻ em vào các khuôn khổ, quy tắc do người lớn đặt ra, trên động cơ lớn nhất mà cha mẹ tin tưởng là “Vì lợi ích tốt nhất cho đứa trẻ”.
Điều bất ngờ là, khi đọc những chương đầu tiên, trong thâm tâm tôi trỗi lên một cảm giác băn khoăn: Những cách dạy dỗ nghiêm khắc này có gì chưa đúng? Rất nhiều cha mẹ Việt Nam vẫn đang dạy con bằng cách “thương cho roi cho vọt” này, và các thế hệ con cái lớn lên vẫn đang biết ơn vì sự nghiêm khắc đó. Tại sao Miller lại phê phán và gọi nó là độc hại?
Nhưng khi cùng Miller bóc tách từng lớp lang tâm lý của phương cách giáo dục này theo các chương sách, tôi chợt nhận ra rằng cuốn sách đang cung cấp cho người làm cha mẹ một hiện thực và kiến thức tâm lý thực tế đến phũ phàng, mà nếu không đủ cởi mở, nhiều phụ huynh sẽ cảm thấy “bị xúc phạm” khi tiếp nhận nó. Từ góc nhìn của một nhà phân tâm với nhiều kinh nghiệm trị liệu cho các bệnh nhân tâm lý, Alice Miller chỉ ra những hệ quả tâm lý nghiêm trọng mà mỗi người có thể phải gánh chịu suốt cuộc đời, bắt nguồn từ cách nuôi dạy này. Bà cũng công bố một thực tế tàn nhẫn – góc khuất tâm lý của phương pháp sư phạm độc hại: cách nuôi dạy con cái hà khắc dựa trên danh nghĩa “vì lợi ích của chính con” thực chất là một hình thức để người lớn phóng chiếu, giải toả các nỗi đau tâm lý mà bản thân đã từng nếm trải khi còn nhỏ.
Dù cuốn sách chỉ tập trung vào phân tích các ca bệnh tiêu cực (mà cực đoan nhất là Adolf Hitler) để chỉ ra sự nuôi dạy nghiêm khắc có thể làm méo mó nhân cách một con người ra sao, nhưng Miller đồng thời cũng hé lộ một sự thật rằng có hàng nghìn người lớn đã và đang nằm trên chiếc giường phân tích của những nhà điều trị phân tâm. Họ chịu những chứng bệnh về thần kinh khi đang ở đỉnh cao thành công – theo đúng kỳ vọng và lộ trình cha mẹ định hướng, đồng thời không lý giải được các vấn đề tâm lý của mình hiện tại. Qua phân tích của Miller, sư phạm độc hại dù giúp một đứa trẻ có thể “thành công” trong một khuôn mẫu xã hội nhất định, đã để lại những sang chấn tâm lý từ rất sớm, bởi nó đã bẻ gãy những động lực sống tự nhiên, đầy tính cá nhân trong mỗi con người.
Xét cho cùng, điều ý nghĩa nhất mà một con người cần là niềm vui sống. Nghiêm khắc và kỉ luật có thể giúp đứa trẻ thành công, nhưng để có được niềm vui sống, nó cần sự tôn trọng, khoan dung, thấu hiểu và tình yêu chân thực từ những người chăm sóc. Nếu cha mẹ đặt giá trị đó là thứ quan trọng nhất cho con cái mình, chúng ta sẽ tìm được những phương pháp nuôi dạy đúng đắn để trẻ không phải đánh đổi niềm vui sống tự nhiên và chân thật đó. Không nhằm mục đích đổ lỗi cho cha mẹ, Alice Miller nhấn mạnh rằng: để có được sự chân thực này, chính sự tự do cá nhân của cha mẹ mới là điều quyết định – chứ không phải những giáo điều giáo dục áp đặt những giới hạn tự nhiên cho đứa trẻ.
Nông Bích Vân
Đại diện nhóm dịch
Lời nói đầu của Ấn bản năm 2002: Sự thật ẩn giấu
Cuốn sách này xuất hiện cách đây 22 năm, khi lạm dụng trẻ em được coi là bình thường. Mọi người đã sốc khi đọc mô tả của tôi về cái mà tôi gọi là “sư phạm độc hại”; họ đã nghĩ rằng chỉ có ở Đức trẻ em mới phải chịu sự ngược đãi, dối trá, đạo đức giả và thao túng kiểu này, chứ không phải đã như vậy trong vòng một trăm năm qua. Sau đó, các phương tiện truyền thông đại chúng bắt đầu đưa ra những sự thật kinh hoàng về những gì xảy ra ngày nay đối với trẻ em ở các quốc gia khác. Những cuốn sách cho thấy “sư phạm độc hại” đang xảy ra ngay cả ở nước Mỹ đương đại cũng bắt đầu xuất hiện (đặc biệt là cuốn Spare the Child của Philip Greven, Knopf, 1991).
Kể từ đó, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn về những gì đã xảy ra với ta trong thời thơ ấu của mình, và bắt đầu tìm hiểu về hậu quả kéo dài suốt đời của những năm đầu đời. Như nhà xã hội học Lucien Lombardo đã viết trong phần giới thiệu một chương của cuốn sách gần đây của tôi, Sự thật sẽ giải phóng bạn, “tuổi thơ không phải là giai đoạn ngắn nhất trong cuộc đời chúng ta mà là dài nhất, vì nó ở lại với chúng ta cho đến khi chết.” Theo một cách nào đó, ông đã đúng: những cảm xúc phi lý như sợ hãi và thịnh nộ bắt nguồn từ thời thơ ấu của chúng ta có thể dẫn đến tội ác hoặc đau khổ suốt đời nếu chúng ta không chăm sóc chúng và không quan tâm đến nguồn gốc của chúng. May mắn thay, ngày nay chúng ta có thể làm việc với vô thức của mình và vượt qua nỗi sợ hãi; chúng ta có thể đạt được sức khỏe tinh thần nếu không phủ nhận những nguyên nhân dẫn đến hoàn cảnh của ta. Thật đáng kinh ngạc, chúng ta có thể sống một cách thực sự hơn một khi biết những gì đã xảy ra với ta lúc đầu đời, và có thể tìm thấy sự truy cập có ý thức với đứa trẻ mà chúng ta đã từng là.
Mặt khác, một số người rất cố gắng để xóa bỏ mọi ký ức, để tránh bất kỳ cuộc đối đầu nào với đứa trẻ bị tra tấn, làm nhục mà họ từng là, khiến cho họ đã chết về mặt tâm trí rất lâu trước khi chết về thể xác, đôi khi trả giá bởi con cái họ và người khác. Sự né tránh này, sự phủ nhận này – thường được thực hiện với sự hỗ trợ của chất gây nghiện – tất nhiên là có thể hiểu được, bởi vì nỗi đau là không thể chịu đựng nổi. Nhưng không phải vậy. Nó chỉ là không thể chịu đựng được với đứa trẻ sơ sinh, vì nó cần phải phủ nhận để tồn tại. Người lớn thì có thể sống với sự thật. Cái giá mà họ phải trả cho sự phủ nhận của mình có thể rất cao.
Trở ngại lớn nhất đối với các bậc cha mẹ có thiện chí là sự thiếu hiểu biết của họ về sự sỉ nhục mà họ đã phải chịu đựng trong thời thơ ấu của chính mình. Một cuộc khảo sát liên quan đến trừng phạt thân thể trẻ em gần đây đã được thực hiện tại Pháp, một trong những quốc gia văn minh và giàu văn hóa nhất thế giới. Một trăm bà mẹ trẻ với các hoàn cảnh khác nhau đã được hỏi, rằng theo họ thì đứa con đầu lòng của họ cần bị đánh đòn ở độ tuổi nào. Tám mươi chín phần trăm phụ nữ trả lời rằng, khi đứa trẻ bắt đầu biết đi hoặc bò và với tay lấy những đồ vật có thể gây nguy hiểm, thì việc đánh đòn là cần thiết để dạy chúng cách cư xử. Mười một phần trăm còn lại không thể nhớ chính xác tuổi của con họ khi họ bắt đầu đánh đòn chúng. Không một bà mẹ nào nói rằng mình chưa bao giờ đánh đòn con.
Kết quả của khảo sát này không làm tôi ngạc nhiên. Tất nhiên, tôi biết có những người không bao giờ đánh con. Nhưng những bậc cha mẹ này là ngoại lệ; có lẽ họ đại diện cho khoảng 3% tất cả các bậc cha mẹ trên thế giới (xem Olivier Maurel, La Fessee, Editions La Plage, 2001). Nếu một cuộc khảo sát được thực hiện ở đất nước đã hơn hai trăm năm tuyên truyền các lý tưởng bình đẳng và tình anh em mà mang lại kết quả đáng buồn này, thì ta có thể mong đợi gì từ những quốc gia chỉ bây giờ mới tiếp cận thông tin quan trọng về lịch sử thời thơ ấu? Sự thiếu hiểu biết tập thể của chúng ta về nguồn gốc của bạo lực vẫn còn vô cùng lớn. Một số người có thể hỏi, tại sao tôi lại tập trung mạnh vào vấn đề trừng phạt thân thể trong khi có rất nhiều hình thức lạm dụng và bóc lột trẻ em khác. Tại sao điều này lại trở thành mục tiêu chính của tôi?
Trước tiên, tác hại mà nó gây ra được đánh giá thấp một cách thảm hại trên toàn thế giới. Ngày nay, không còn ai cố tình khuyến cáo về việc hạ nhục bằng lời nói, thao túng và bóc lột trẻ em “vì ích lợi của chính chúng.” Nhưng, nhiều người tin một cách nghiêm túc rằng đánh đòn có ích cho trẻ em. Và trừng phạt thân thể bao gồm các tác động của tất cả các hình thức lạm dụng trẻ em khác: phản bội lại sự tự tin, phẩm giá và nhận thức của đứa trẻ về thực tế. Cuối cùng, tôi nhấn mạnh đến trừng phạt thân thể vì vai trò thiết yếu của cơ thể trong việc truyền thông tin cho thế hệ sau. Cơ thể tích trữ trong các tế bào những gì nó đã phải chịu đựng kể từ thời điểm thụ thai, một hiện tượng mà Olivier Maurel đã giải thích rất rõ (xem phần bình luận của anh dưới phần “Dangers specifiques des chatiments corporels” trên trang web của tôi, http://www.alice-miller.com). Ký ức của cơ thể ẩn chứa sự bí ẩn của cưỡng chế lặp lại, đặc biệt là sự cưỡng chế khiến rất nhiều người lớn lặp lại với chính con cái họ những gì mà họ đã phải chịu đựng rất sớm trong cuộc đời, nhưng không thể nhớ lại.
Chúng ta còn miễn cưỡng, chưa thừa nhận rằng ký ức về cơ thể ta, cùng với trải nghiệm cảm xúc của ta, không được kiểm soát bởi ý thức, bởi tâm trí của chúng ta. Chúng ta không kiểm soát được cách thức hoạt động của ký ức này. Nhưng, việc chấp nhận sự tồn tại tuyệt đối của những hiện tượng này có thể giúp chúng ta đề phòng những tác động của chúng. Một người mẹ điển hình, khi “vô tình” tát con mình, đã không nhận thức được sự thật rằng cơ thể và ký ức của nó đang thúc giục cô ta làm vậy. Nhưng cô ta có thể hiểu điều này, và hiểu nghĩa là có thể đối phó với một hành vi gây hại cho tất cả những người liên quan, thay vì lặp đi lặp lại nó một cách liên tục và bất lực.
Các giáo viên và cha mẹ của hai thế kỷ trước, tôi có trích dẫn một số trong cuốn sách này, đã nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại rằng trường học của sự vâng lời, của “dạy bảo bằng đòn roi” nên bắt đầu từ rất sớm trong cuộc đời một đứa trẻ, để thông điệp đó vẫn có hiệu lực trong suốt cuộc đời chúng. Như khảo sát của Pháp nói trên đã chứng minh, lời khuyên này vẫn được tuân theo: trẻ em bị đánh đập, và vào thời điểm gây tổn hại nhất cho chúng. Trong ba năm đầu đời, não bộ của trẻ phát triển rất nhanh. Những bài học bạo lực được rút ra vào thời điểm này không dễ gì tan biến. Trẻ em buộc phải phủ nhận nỗi đau để tồn tại, nhưng chiến lược này sẽ đưa chúng, khi trưởng thành, đến sự mù cảm xúc, và sự mù cảm xúc này là nguyên nhân của thái độ phi lý mà chúng hành động với tư cách là cha mẹ và nhà giáo. Việc phủ nhận bạo lực mà người ta đã phải chịu đựng sẽ dẫn đến bạo lực hướng tới người khác hoặc bản thân.
Tất nhiên, tôi cũng không là ngoại lệ, và đã mất một thời gian dài để giải thoát khỏi sự phủ nhận này. Việc đánh thức cảm xúc và ký ức của tôi thông qua tranh, bức tranh mà tôi vẽ năm 1973, đã thúc đẩy tôi nhìn lại những tuổi thơ khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau. Qua nghiên cứu này, tôi đã nhận ra cách mà cái ác xâm nhập vào thế giới, và cách chúng ta tạo ra nó trong thế hệ mới, cứ thế lặp đi lặp lại. Và phương pháp “sư phạm độc hại” mà tôi chạm trán đã dạy tôi thấy những gì mẹ tôi đã làm với tôi trong những năm đầu đời tôi, cách bà đã thành công trong việc biến tôi thành một đứa trẻ ngoan ngoãn, mà như bà nói sau này, bà không bao giờ có vấn đề gì với nó. Cái giá mà tôi phải trả cho cái mà nhiều người gọi là “nuôi dạy tốt” là trong một thời gian dài tôi đã bị tách rời khỏi cảm xúc thực sự của mình, khỏi chính bản thân mình.
Sáu năm sau khi tôi bắt đầu vẽ, tôi đã viết ba cuốn sách đầu tiên của mình trong ba năm (The Drama of the Gifted Child, For Your Own Good, and Thou Shalt Not Be Aware), trong đó tôi cố gắng giải thích mối liên hệ giữa những nỗi đau thời thơ ấu bị phủ nhận và bạo lực khi trưởng thành. Nghiên cứu về Hitler và các nhà độc tài khác đã mở ra cho tôi những nguồn kiến thức mà hầu hết mọi người đều bỏ qua hoặc bỏ sót. Đối với tôi, đó là một sự mặc khải.
Sau đó, tôi nghiên cứu thời thơ ấu của một số kẻ giết người hàng loạt và luôn tìm thấy cùng một mô hình (pattern): lạm dụng quá mức, thiếu chứng nhân giúp đỡ (helpful witness), ca ngợi bạo lực, và cưỡng chế lặp lại – với độ chính xác như chụp ảnh – những gì đã phải chịu đựng trong những năm đầu đời. Trong cuốn Base Instincts: What Makes Serial Killers Kill của Jonathan Pincus (Norton, 2001), gần đây tôi đã xác nhận giả thuyết của mình rằng những kẻ giết người hàng loạt đã bị ngược đãi nghiêm trọng khi còn nhỏ và hầu hết đều phủ nhận việc đã từng bị lạm dụng. Tôi tin rằng, một số ít người không phủ nhận chuyện đó thì lại tự trách bản thân về sự lạm dụng, gọi đó là kỷ luật, hoặc chỉnh đốn, hoặc là nghiêm khắc cần thiết. Vì lý do đó, vì sự nhầm lẫn đó, họ đã trở thành những kẻ giết người.
Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn này, chúng ta phải đối mặt với sự thật. Và chúng ta có thể làm được. Chúng ta là những đứa trẻ bị sỉ nhục; chúng ta là nạn nhân của sự thiếu hiểu biết của cha mẹ, nạn nhân của lịch sử của họ, của những vết sẹo vô thức mà tuổi thơ đã để lại cho họ. Chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc phủ nhận sự thật.
Nhưng, không giống như trẻ em, người lớn chúng ta có những lựa chọn thay thế khác, lành mạnh hơn. Chúng ta có thể lựa chọn tri thức và nhận biết thay vì sự cưỡng chế và sợ hãi. Thật không may, quá nhiều người vẫn chưa nhận thức được sự lựa chọn này. Có thể, có một chút Stalin bên trong nhiều người trong chúng ta. Đối với tất cả quyền lực của mình, ông ta đã dành cả cuộc đời để sợ hãi người cha và bám vào những “phước lành” của sự phủ nhận. Giống như Hitler, ông ta tin rằng việc tiêu diệt hàng triệu người sẽ giải phóng ông ta khỏi nỗi sợ hãi dày vò về cha mình. Nhưng đã uổng công.
Được trang bị những tri thức mà chúng ta hiện có theo ý mình, chúng ta có thể phát triển nhiều ý tưởng và giải pháp khỏi những thứ được truyền lại cho chúng ta trong một truyền thống nghìn năm của bạo lực, trừng phạt và báo thù, vốn được duy trì bởi sự yếu đuối, thiếu hiểu biết và sợ hãi. Để chữa lành vết thương, rốt cuộc chúng ta cần hai “chứng nhân hiểu biết” – nhà trị liệu và cơ thể của chúng ta, ngôn ngữ của họ sẽ cảnh báo chúng ta thời điểm ta từ bỏ sự thật của mình. Chúng ta phải học cách tôn trọng những thông điệp này. Việc có một nhà trị liệu, người đã xử lý được câu chuyện của chính mình và không ngần ngại chia sẻ nó có thể rất hữu ích cho bệnh nhân, bởi vì nó tạo ra sự tin tưởng, thấu hiểu và những trải nghiệm chung.
Tầm quan trọng của những trải nghiệm thời thơ ấu đối với cuộc sống khi lớn lên vẫn bị bỏ qua trong hầu hết các xã hội. Nhưng thời gian đã mang lại một số thay đổi quan trọng, chẳng hạn như các biện pháp ở một số nước châu Âu quy định việc đánh đập trẻ em là bất hợp pháp. Và sự phát triển của Internet đã làm cho thông tin được phổ biến rộng rãi, mà chỉ cách đây không lâu vẫn là điều cấm kỵ. Ví dụ, đây là đoạn trích từ một bức thư mà tôi tìm thấy trên trang http://www.nospank.net. Hai mươi năm trước, một lá thư như thế này có lẽ sẽ không được viết, và đó là lý do tại sao tôi muốn đưa nó vào ấn bản mới nhất của cuốn sách của mình:
Tôi nhớ mình ngồi trong lòng bố (OK, bây giờ tim tôi đang đập thình thịch). Tôi không rõ mình bao nhiêu tuổi nhưng tay ông đã lần xuống quần của tôi. Tôi nghĩ lúc đó tôi vừa tắm và mặc đồ ngủ, nhưng tôi không thể chắc chắn… Tôi cứ loay hoay tìm cách bỏ đi, trong khi cố tỏ ra nhẹ nhàng để ông ấy không nhận ra rằng tôi đang khó chịu. Tôi đã rất quan tâm đến cảm xúc của ông ấy…
Có lẽ tôi sợ làm ông buồn. Tôi đoán tôi đã không biết phải làm gì với cảm xúc của mình. Vì ông ấy có thể bắt tôi kéo quần xuống và đứng trần truồng từ thắt lưng trở xuống bất cứ lúc nào, để đánh tôi bằng thắt lưng của ông, nên tôi đoán tôi đã cho rằng cơ thể của tôi là của ông ấy, để ông có thể những gì thấy phù hợp, và quyền riêng tư không phải là thứ tôi có…
Đôi khi, khi bố tôi ép tôi ăn, ông ấy còn dọa sẽ đánh nếu tôi không ngừng khóc. Bạn biết nó thế nào, “Đừng khóc nữa, nếu không tao sẽ cho mày thứ gì đó để khóc.” Tôi sợ bố kinh khủng. Tôi giả vờ ngủ khi bố tôi đứng ở ngưỡng cửa phòng ngủ, nhìn tôi chằm chằm. Đó là cách sống của tôi. Tôi luôn xấu hổ khi bị bố bắt phải kéo quần xuống để lộ cặp mông trần của mình, để ông có thể nhìn thấy chiếc thắt lưng đang quật vào làn da trần của tôi. Thực ra, ngay từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã nghĩ đó là một phần hình phạt của mình – bị phơi bày và bị hạ nhục – bị buộc phải thể hiện rằng tôi nhỏ bé và không xứng đáng được tôn trọng như thế nào, và những gì người ta có thể làm hay sẽ làm với tôi theo ý muốn, nếu tôi không làm điều gì đó mà lẽ ra tôi phải làm. Dần dần, tôi bắt đầu nhìn vào những vết roi mà ông ấy để lại, bằng cách soi chiếc gương phòng tắm nhỏ hình tròn. Chắc hẳn bố tôi đã thật mãn nguyện khi nhìn thấy kết quả của những nỗ lực của mình. Tôi đoán ông ấy đã chỉ cho tôi thấy… Vâng, tôi thực sự đã học được bài học của mình. Tiếng quật thắt lưng của ông ấy vào da tôi là một âm thanh mà tôi sẽ không bao giờ quên. “Bỏ tay ra” là những từ tôi không bao giờ có thể quên.
Bản thân từ “thắt lưng” vẫn làm tôi bối rối và xấu hổ cho đến tận ngày nay. Tôi đã nhục nhã biết bao! Tôi tin rằng bố tôi thực sự tận hưởng hành động quyền lực này. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu ông ấy xuất ra quần ngay giữa thời điểm đó. Sự xấu hổ này chuyển thành tủi nhục và chính sự tủi nhục này đã ám ảnh tôi. Tôi cảm thấy bị xâm hại. Tôi đã bị xâm hại.
Liệu ông ấy có thực sự tin rằng tôi xứng đáng bị như vậy? Ông ấy có thực sự tin rằng đó là cách tốt nhất? Hay là, ông ấy chỉ đơn thuần không chống chọi nổi nhu cầu của bản thân, trong tức giận, xả sang người khác cái sự sỉ nhục mà ông đã phải cảm thấy khi còn nhỏ? Liệu thực tế là ông ấy đã cảm thấy kiểu hạ nhục này khi còn nhỏ? Đó là vì ông ấy thiếu học thức hay thiếu trí tuệ? Có lẽ ông ấy lười biếng và không muốn thử hoặc học bất kỳ cách nuôi dạy con cái nào khác. Có lẽ nhu cầu của ông ấy thiết lập quyền kiểm soát mọi thứ. Hoặc có lẽ ông ấy thích tàn nhẫn. Tôi không biết phải làm thế nào để tha thứ cho ông ấy. Tôi thậm chí không nghĩ rằng tôi muốn tha thứ. Trong suy nghĩ của tôi, việc tha thứ cho ông ấy giống như nói rằng chuyện đó là OK.
CHUYỆN ĐÓ KHÔNG OK!
Ông ấy lột sạch quần áo của tôi, và cùng với đó là phẩm giá và giá trị bản thân của tôi. Tôi không biết phải làm thế nào để tha thứ cho ông ấy vì điều đó. Tất nhiên, ông ấy chưa bao giờ cầu xin sự tha thứ của tôi. Tôi chỉ có thể cho rằng ông ấy tin rằng mình là một người cha tốt. Tôi vẫn sợ đề cập chủ đề này với ông ấy, dù sao tôi cũng không liên hệ gì với ông, vì sợ ông ấy sẽ cười nhạo tôi.
Đó là những gì mà sự tủi nhục đã làm với một người. Nó làm suy nhược, ngăn cản một người đối mặt với nỗi sợ hãi của mình. Ông ấy thường cười nhạo khi tôi ngoan ngoãn đưa thắt lưng cho ông, trong khi tôi đang thổn thức trước những gì sắp xảy ra. Ông ta từng cười khúc khích và nói: “Tại sao mày khóc? Tao còn chưa chạm vào mày.” Nếu tôi khóc hoặc than vãn quá nhiều, tôi sẽ bị đánh vì điều đó. Tôi phải làm gì chứ? Tôi không bao giờ biết khi nào sẽ bị đánh, và luôn coi những lời đe dọa là thật.
Ôi, những lời đe dọa. Chúng rất nhiều. “Mày muốn tao đánh giập mông không? Mày muốn cái thắt lưng không? Muốn tao đánh mày không? Muốn tao đánh rộp đuôi không? Có muốn bị đánh không?” Tôi dường như chưa bao giờ biết cách tránh. Tôi chỉ sống theo cách duy nhất mà tôi biết, và nhận ra rằng mình phải tồi tệ và không sáng láng đến mức nào để cứ tiếp tục mắc phải những sai lầm tương tự…
Giờ tôi đã có con và đang dồn hết tâm sức để phá vỡ cái dây xích của các phương pháp nuôi dạy con cái nhục nhã và đầy sự kiểm soát này. Tôi tiếp tục tìm hiểu xem tuổi thơ của tôi đã ảnh hưởng đến tôi sâu sắc như thế nào, và đấu tranh để thay thế cái mà tôi biết từ trải nghiệm bằng cái mà tôi biết là tốt, tử tế và hợp lý. Được sự ban phước của Chúa và ý chí mạnh mẽ của mình, tôi đã phá vỡ xiềng xích. Thật không may, tôi vẫn bị trói buộc vào chuỗi xích này, nhưng là mắt xích cuối cùng. Các con tôi không có liên kết nào với chuỗi xích tổn thương này, và do đó không bị trói buộc vào nó. Chúng được tự do và tôi cảm tạ Chúa …
Cha,
Tôi tin rằng ông là một kẻ bắt nạt tàn bạo. Tôi tiếp tục bị xấu hổ và sỉ nhục qua ký ức; do đó, hình phạt mà ông đã gây ra cho tôi khi còn là một cô bé đã kéo dài suốt cuộc đời tôi. Tôi tin rằng một phần con người ông đã chết bên trong, hạn chế khả năng đồng cảm và cảm nhận sâu sắc nỗi đau của người khác. Tôi cảm thấy vừa khinh vừa thương cho ông. Bóng đêm và sự u tối bao quanh ông. Tôi biết rằng mình bị ràng buộc bởi tình yêu của Chúa để tha thứ cho ông, nhưng vẫn đang tiếp tục đấu tranh với việc này. Vì vậy, cuối cùng tôi đã bày tỏ cảm xúc thật của mình, ít nhất là một vài trong số chúng. Tôi nói với ông những điều này như một nỗ lực để giải phóng bản thân khỏi những tổn thương tinh thần mà ông đã gây ra cho tôi, chứ không phải như một phương tiện để nối lại liên lạc. Bức thư này là cho tôi, không phải cho ông.
Pamela
Một vài người trong chúng ta có thể đã nghe thấy những giọng nói như của Pamela trong các bài thơ hoặc tiểu thuyết. Nhưng khi chúng được người lớn biên tập thành văn học, giọng nói của đứa trẻ vẫn bị ẩn đi. Điều khiến tôi đặc biệt cảm động về bức thư của Pamela là cô ấy đã cho phép đứa trẻ được nói.
Kể từ khi cuốn sách này lần đầu xuất bản, tôi đã nhận được rất nhiều thư từ tương tự. Những bức thư nhận được đã cho tôi ý tưởng thành lập các diễn đàn trên Web có tên “ourchildhood” bằng tiếng Anh, Đức và Pháp, để những người sống sót sau lạm dụng có thể chia sẻ kinh nghiệm của họ. Tất cả ba diễn đàn đều có thể truy cập được từ trang Web của tôi. Nhận thức được những gì đã xảy ra với mình có thể giúp chúng ta chấm dứt chuỗi bạo lực. Nói về hòa bình mà không được chuẩn bị để nhìn thấy gốc rễ của bạo lực trong thời thơ ấu thì giống như định chữa lành một người bằng cách đắp chăn và bỏ qua một chỗ viêm nhiễm khổng lồ. Các ổ áp xe phải được nhìn thấy và điều trị tốt để lành.
Lần đầu tiên, những nạn nhân cũ có thể nói trong một diễn đàn cởi mở về những nỗi nhục nhã và đau đớn mà họ phải chịu trong thời thơ ấu, và lần đầu tiên họ có thể được hỗ trợ bởi những người khác đã từng phải chịu đựng như vậy. Họ có thể cảm thấy được thấu hiểu với cảm nhận thực tế của mình. Cùng với thời gian, họ có thể giải phóng bản thân khỏi sự tủi nhục và tội lỗi đã truyền cho họ vì những việc làm của người khác. Sự phát triển này cho phép hy vọng rằng các nhà trị liệu cũng sẽ quyết định thực hiện cuộc hành trình của riêng họ vào quá khứ. Bằng cách thừa nhận sự thật và chữa lành, họ sẽ khuyến khích bệnh nhân của mình làm điều tương tự.
Ngày nay, tôi nghĩ, ranh giới quan trọng không nằm giữa những người đã từng bị ngược đãi và những người không bị, mà giống như việc phân chia giữa những nạn nhân vô thức và những người sống sót có ý thức. Bởi vì hầu hết chúng ta đều là nạn nhân của bạo lực “giáo dục” mà – thật không may – vẫn được coi trọng ở quá nhiều nơi trên thế giới, bao gồm cả Hoa Kỳ. Ngày nay, chỉ có trẻ em là bị khước từ quyền con người.
Lời nói đầu cho Ấn bản Mỹ (năm 1982)
Cuốn sách này xuất hiện ở Mỹ khoảng hai năm rưỡi sau khi xuất bản lần đầu tiên ở Đức, và có lẽ nó cũng chưa từng xuất hiện ở quốc gia này. Nếu nó xuất hiện ở đây sớm hơn, độc giả Mỹ có thể đã hỏi: “Tại sao ngày nay chúng ta vẫn phải bận tâm đến Hitler? Đó là lịch sử cổ đại rồi,” và “Cô Christiane F. này là ai?” Nhưng bây giờ, sau khi rất nhiều người Mỹ trẻ đã chứng kiến những bi kịch của chính họ được phản ánh trong bộ phim và cuốn sách về Christiane F., một thiếu nữ nghiện ma túy người Đức, và sau tất cả các câu chuyện trên các phương tiện truyền thông trong mấy năm qua về nguy cơ chiến tranh hạt nhân, không có gì ngạc nhiên khi tôi đã chọn Adolf Hitler và Christiane F. lần lượt là đại diện của sự hủy diệt cực độ trên quy mô lịch sử thế giới, và sự tự hủy diệt cực độ của một cá nhân.
Kể từ khi Thế chiến thứ hai kết thúc, tôi đã bị ám ảnh bởi câu hỏi: điều gì có thể khiến một người hình thành kế hoạch giết hàng triệu người bằng hơi ngạt, và làm thế nào để hàng triệu người khác có thể ca ngợi hắn ta và hỗ trợ thực hiện kế hoạch này? Lời giải cho bí ẩn này, mà tôi mới tìm ra cách đây không lâu, là những gì tôi cố gắng trình bày trong cuốn sách này. Phản ứng của độc giả đối với nghiên cứu của tôi đã thuyết phục tôi rằng những người khác cũng thấy vấn đề nghiêm trọng như thế nào, và việc tàng trữ vũ khí hạt nhân một cách đáng sợ trên toàn thế giới đang đặt ra câu hỏi tương tự và thậm chí còn gay gắt hơn: cụ thể là, điều gì có thể thúc đẩy một người lạm dụng quyền lực để gây ra sự hủy diệt nhân loại, hoàn toàn không chút ngại ngùng và bằng việc sử dụng các ý thức hệ lừa dối, một hành động mà ngày nay hoàn toàn có thể hình dung được? Khó có thể coi là một nghiên cứu học thuật nhàn hạ khi ai đó cố gắng vạch trần gốc rễ của một lòng căm thù vô bờ và vô độ như của Hitler; một cuộc điều tra kiểu này là vấn đề sinh tử của tất cả chúng ta, vì ngày nay chúng ta dễ trở thành nạn nhân của sự thù hận như vậy hơn bao giờ hết.
Đã có rất nhiều bài viết về Hitler bởi các nhà sử học, nhà xã hội học, nhà tâm lý học và nhà phân tâm học. Như tôi cố gắng thể hiện trong phần tiếp theo của sách, tất cả những người viết tiểu sử của hắn ta đã cố gắng giải tội cho cha mẹ hắn (đặc biệt là cha), do đó từ chối khám phá những gì thực sự đã xảy ra với người đàn ông này: trong thời thơ ấu của ông ta, những trải nghiệm nào hắn đã tích trữ trong mình, và hắn đã được làm quen với những cách đối xử với người khác nào như hình mẫu cho mình.
Một khi tôi đã vượt ra ngoài những quan điểm bóp méo gắn liền với ý tưởng về một “sự nuôi dạy tốt” (được mô tả trong cuốn sách này như phương pháp “sư phạm độc hại”) và chỉ ra rằng thời thơ ấu của Hitler đã tiên đoán về các trại tập trung sau này như thế nào, vô số độc giả đã kinh ngạc bởi bằng chứng thuyết phục tôi đã trình bày cho quan điểm của mình. Tuy nhiên, cùng lúc đó, những lá thư của họ bày tỏ sự bối rối: “Về cơ bản, thời thơ ấu của tôi không khác với Hitler mấy; tôi cũng vậy, được nuôi dạy rất nghiêm khắc, bị đánh đập và ngược đãi. Tại sao sau đó tôi không trở thành một kẻ giết người hàng loạt thay vì một nhà khoa học, luật sư, chính trị gia, hay một nhà văn?”
Thật ra, cuốn sách của tôi đã cung cấp câu trả lời rõ ràng, mặc dù chúng dường như thường bị bỏ qua. Ví dụ, Hitler chưa bao giờ có một ai khác mà anh ta có thể thổ lộ cảm xúc thực sự của mình; anh ta không chỉ bị ngược đãi, mà còn bị ngăn cản việc trải nghiệm và bày tỏ nỗi đau của mình. Anh ta không có bất kỳ đứa con nào để có thể trở thành đối tượng để giải tỏa sự thù hận của anh ta; và cuối cùng, sự thiếu học thức đã không cho phép anh ta xua đuổi sự thù hận của mình bằng cách trí thức hóa nó. Nếu một trong những yếu tố này khác đi, có lẽ anh ta đã không trở thành kẻ tội phạm khủng khiếp như vậy.
Mặt khác, Hitler chắc chắn không phải là một hiện tượng cá biệt. Hắn không thể có hàng triệu tín đồ nếu họ không trải qua cùng một kiểu giáo dục. Tôi đã chờ đợi nhiều sự phản đối của công chúng khi tôi nâng cao luận điểm này – điều mà tôi tin là đúng – nên tôi rất ngạc nhiên khi biết có rất nhiều độc giả, cả già lẫn trẻ, đồng tình với tôi. Từ quá khứ của mình, họ đã quen thuộc với những gì tôi mô tả. Tôi không cần phải lập luận phức tạp; tất cả những gì tôi làm là mô tả thời thơ ấu của Hitler như một tấm gương, và đột nhiên những người Đức bắt gặp hình ảnh phản chiếu của chính họ trong đó.
Chính bản chất riêng tư trong những phản ứng của họ đối với ba ví dụ mà tôi trình bày trong cuốn sách của mình đã giúp nhiều người hiểu, không chỉ thuần túy về mặt trí tuệ, rằng mọi hành động tàn ác, bất kể tàn bạo và gây sốc đến mức nào, đều có những dấu vết tiền đề trong quá khứ của hung thủ. Các phản ứng đa dạng đối với cuốn sách của tôi bao gồm từ trải nghiệm “aha” không thể nhầm lẫn cho đến sự phủ nhận một cách tức giận. Trong trường hợp thứ hai, như tôi đã chỉ ra, nhận xét sau đây cứ lặp đi lặp lại như một điệp khúc: “Tôi là bằng chứng sống cho thấy việc đánh đập (beat) và đánh đòn (spank) trẻ em không nhất thiết là có hại, vì mặc dù vậy, tôi đã trở thành một người tử tế.”
Mặc dù mọi người có xu hướng phân biệt giữa “đánh đòn” và “đánh đập” một đứa trẻ, coi biện pháp trước là ít nghiêm khắc hơn, ranh giới giữa hai biện pháp này là mong manh. Tôi vừa nghe một phóng sự trên đài phát thanh Mỹ về một người đàn ông – thành viên một giáo phái chính thống Cơ đốc giáo ở Tây Virginia – đã “đánh đòn” con trai mình trong hai tiếng đồng hồ. Kết quả là cậu bé đã chết. Nhưng ngay cả khi đánh đòn là một hình thức bạo lực thân thể nhẹ hơn, thì nỗi đau và sự sỉ nhục về mặt tinh thần cũng như nhu cầu kìm nén những cảm xúc này cũng xảy ra giống như trong trường hợp bị trừng phạt nặng hơn. Cần phải chỉ ra điều này để những độc giả từng nhận hoặc sử dụng cái mà họ gọi là “đánh đòn” sẽ không nghĩ rằng họ hoặc con cái của họ được miễn trừ hậu quả của việc đánh đập trẻ em được thảo luận trong cuốn sách này.
Có lẽ đa số chúng ta thuộc nhóm những “người tử tế từng bị đánh đập”, vì cách đối xử với trẻ em như vậy là chuyện đương nhiên trong các thế hệ trước. Vì vậy, ở một mức độ nào đó, tất cả chúng ta đều có thể được xếp vào số những kẻ sống sót khỏi “phương pháp sư phạm độc hại”. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu suy luận rằng một khi ta đã sống sót, thì sự nuôi dạy của cha mẹ không gây hại gì cho ta. Điều đó cũng giống như cho rằng một cuộc chiến tranh hạt nhân trong giới hạn sẽ là vô hại, vì một phần nhân loại sẽ vẫn còn sống khi nó kết thúc. Ngoài thái độ nhẹ dạ đáng trách đối với các nạn nhân, quan điểm phản bội này cũng không tính đến câu hỏi về những hậu quả mà những người sống sót sau một cuộc xung đột hạt nhân sẽ phải đối mặt. Tình huống này tương tự như “sư phạm độc hại”, vì ngay cả khi chúng ta, những người sống sót sau những nhục hình nặng nề thời thơ ấu mà tất cả chúng ta đều quá sẵn sàng coi nhẹ, không giết chính mình hoặc người khác, không nghiện ma túy hoặc trở thành tội phạm, và đủ may mắn để không truyền những điều vô lý của thời thơ ấu của ta cho con cái để chúng trở nên loạn thần, thì chúng ta vẫn có thể hoạt động như những kẻ mang bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Chúng ta sẽ tiếp tục lây nhiễm cho thế hệ sau bằng loại vi-rút “sư phạm độc hại”, chừng nào còn khẳng định rằng kiểu giáo dục này là vô hại. Chính đây là chỗ chúng ta trải nghiệm những hậu quả tai hại từ quá trình sống sót của mình, bởi vì ta chỉ có thể tự bảo vệ mình khỏi một chất độc khi nó được dán nhãn rõ ràng như vậy, chứ không phải khi nó được trộn, như đã từng, với kem và được quảng cáo là “For Your Own Good” (yêu cho roi cho vọt). Con cái chúng ta sẽ bất lực khi phải đối mặt với kiểu dán nhãn như vậy. Khi những người từng bị đánh đập hoặc đánh đòn khi còn nhỏ cố gắng giảm nhẹ hậu quả bằng cách lấy mình làm gương, thậm chí cho rằng điều đó là tốt cho họ, thì họ chắc chắn đang góp phần cho sự tàn ác trên thế giới được tiếp diễn, bằng cách chối bỏ nhìn nhận nghiêm túc những bi kịch tuổi thơ của họ. Nếu tiếp nhận thái độ này, thì con cái, học sinh, sinh viên của họ sẽ lần lượt đánh đập chính con mình, đem cha mẹ, thầy cô, giáo sư của họ ra làm uy quyền. Chẳng phải kiểu suy nghĩ này chính là hậu quả trớ trêu nhất của việc từng là một đứa trẻ bị đánh đập hay sao?
Mặc dù công chúng bắt đầu hiểu rằng, nỗi đau khổ này được truyền sang con cái dưới hình thức nuôi dạy được cho là “vì lợi ích của chúng”, nhưng nhiều người mà tôi từng nói chuyện ở Hoa Kỳ vẫn tin rằng, các phương pháp nuôi dạy trẻ kiểu cho phép (permissive) đã cho trẻ em “quá nhiều” tự do, và chính sự cho phép này, chứ không phải “sư phạm độc hại”, là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng đáng kể tội phạm và nghiện ma túy. Ngay cả phim hoạt hình và truyện cười cũng chế giễu những bậc cha mẹ có thái độ bao dung và ủng hộ con cái, nhấn mạnh những mối nguy hiểm nếu cha mẹ cho phép mình bị con cái lấn át. Niềm tin sai lầm của vua Solomon (nếu bạn để không chiếc roi, bạn sẽ làm hư đứa trẻ) ngày nay vẫn được tiếp nhận hết sức nghiêm túc như một sự khôn ngoan tuyệt vời, và vẫn đang được truyền lại cho thế hệ sau. Những thái độ này, mặc dù bây giờ có hình thức tinh tế hơn và kín đáo hơn, không khác xa với những quan điểm được trích dẫn trong các trang sau, để minh họa những tác động có hại của các phương pháp nuôi dạy trẻ. Những quan điểm như vậy đã không được khẳng định trên thực tế qua nhiều năm kinh nghiệm của tôi. Về mặt lý thuyết, tôi có thể tưởng tượng rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ coi con cái mình không phải là những sinh vật để thao túng hay thay đổi, mà là những sứ giả đến từ một thế giới mà chúng ta đã từng biết sâu sắc, nhưng đã quên từ lâu, người có thể tiết lộ cho chúng ta về những bí mật thực sự của sự sống, và cả cuộc sống của chính chúng ta, nhiều hơn những gì cha mẹ chúng ta từng có thể làm. Chúng ta không cần phải được yêu cầu là nên nghiêm khắc hay dễ dãi với con cái. Những gì chúng ta cần là tôn trọng nhu cầu, cảm xúc và con người của chúng, cũng như với chính chúng ta vậy.
Không phải ngẫu nhiên mà cả ba người tôi viết trong cuốn sách này đều không có con. Một độc giả đã viết cho tôi: “Ai biết được, có lẽ người Do Thái đã không bị đưa đến lò hơi ngạt nếu Hitler có năm người con trai để ông ta có thể trả thù cho những gì cha ông ta đã làm với ông ta”. Chúng ta trừng phạt con cái vì những hành động tùy tiện của cha mẹ mà chúng ta đã không thể tự vệ, vì Điều răn thứ tư. Tôi đã phát hiện ra rằng, chúng ta sẽ không bị là con mồi của sự cưỡng chế lặp lại này nếu sẵn sàng thừa nhận những gì đã xảy ra với chúng ta, nếu chúng ta không tuyên bố rằng mình đã bị ngược đãi “vì lợi ích của chính mình”, và nếu chúng ta không phải gạt hết đi những phản ứng đau đớn của mình đối với quá khứ. Ngược lại, càng lý tưởng hóa quá khứ và từ chối thừa nhận những đau khổ thời thơ ấu của mình, chúng ta càng truyền lại chúng cho thế hệ sau một cách vô thức. Vì lý do này, tôi cố gắng chỉ ra trong các trang này một số kết nối cơ bản, với hy vọng phá vỡ cái vòng luẩn quẩn. Một sự thay đổi mang tính quyết định cũng có thể xảy ra trong nền văn hóa của chúng ta, chỉ cần các bậc cha mẹ ngừng chống lại cha mẹ của họ trong con cái họ, thường là khi chúng vẫn còn là trẻ sơ sinh. Họ làm vậy vì cha mẹ của họ được đặt vào vị trí không có tội lỗi và bất khả xâm phạm bằng một biện pháp vũ lực – chính là nhờ Điều răn thứ tư và các phương pháp nuôi dạy con mà họ đã áp dụng.
Trong một chuyến đến Hoa kỳ gần đây, tôi gặp rất nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, những người đã khám phá ra sức mạnh của kiến thức của mình. Họ đã không thu mình lại, mà chỉ ra bản chất độc hại của thông tin sai lệch, mặc dù chúng đã được che giấu kỹ càng trong nhiều thiên niên kỷ đằng sau sự linh thiêng và những nhãn hiệu sư phạm tốt đẹp. Những cuộc trò chuyện của tôi ở Hoa Kỳ đã củng cố cho kinh nghiệm riêng của tôi, rằng lòng dũng cảm cũng có thể lây lan như nỗi sợ hãi. Và nếu chúng ta đủ can đảm để đối mặt với sự thật, thế giới sẽ thay đổi, bởi vì sức mạnh của “sư phạm độc hại” đã thống trị chúng ta bấy lâu nay phụ thuộc vào nỗi sợ hãi và sự bối rối của chúng ta, và tính cả tin trẻ con của chúng ta. Một khi được phơi bày trước ánh sáng của sự thật, nó chắc chắn sẽ biến mất.
A.M.
Tháng 11 năm 1982
Lời nói đầu cho Ấn bản đầu tiên (năm 1980)
Những gì nhiều nhất mà phân tâm có thể làm – như trong một lời trách móc điển hình – là giúp đỡ một thiểu số có đặc quyền, và cũng chỉ ở một mức độ rất hạn chế. Đây chắc chắn là một phàn nàn có cơ sở, một khi những lợi ích có được từ phân tâm là tài sản độc quyền của một số ít có đặc quyền. Nhưng mọi việc không nhất thiết phải như vậy.
Những phản ứng đối với cuốn sách đầu tiên của tôi, Bi kịch của đứa trẻ tài năng, thuyết phục tôi rằng, các thành viên trong nghề cũng phản đối những gì tôi nói không kém so với bên ngoài cộng đồng phân tâm học. Thực tế là, thế hệ công chúng trẻ có lẽ thậm chí còn cởi mở hơn với các ý tưởng của tôi so với các đồng nghiệp chuyên nghiệp. Suy ngẫm về điều này, tôi nhận ra rằng điều quan trọng là công bố những kết quả thu được từ một vài ca phân tâm học cho rộng rãi công chúng, thay vì giấu chúng trên các kệ thư viện đầy bụi. Vì vậy, tôi quyết định dành vài năm tiếp theo của cuộc đời mình cho việc viết lách.
Tôi chủ yếu quan tâm đến việc mô tả các tình huống hàng ngày xảy ra bên ngoài bối cảnh phân tâm học, tuy nhiên, có thể hiểu đầy đủ hơn nếu nhìn từ góc độ phân tâm học. Điều này không có nghĩa là áp dụng một lý thuyết có sẵn vào xã hội, vì tôi tin rằng tôi có thể thực sự hiểu một người chỉ khi tôi nghe và cảm nhận được những gì người đó đang nói với tôi mà không cần phải giấu giếm hay ngăn cản bản thân đằng sau những lý thuyết. Tâm lý học chuyên sâu được thực hành trên cả người khác và chính bản thân chúng ta, cung cấp cho những nhà phân tích chúng ta những hiểu biết sâu sắc về tâm thần (psyche) con người, thứ luôn đồng hành cùng chúng ta ở mọi nơi trong cuộc sống, nâng cao sự nhạy cảm của chúng ta bên ngoài cũng như bên trong phòng tư vấn.
Mặt khác, công chúng còn lâu mới nhận ra rằng những trải nghiệm sớm nhất của ta chắc chắn có ảnh hưởng đến toàn xã hội, rằng các chứng rối loạn tâm thần (psychoses), nghiện ma túy và tội phạm là những biểu hiện được mã hóa của những trải nghiệm này. Thực tế này thường được tranh cãi hoặc chỉ được chấp nhận ở mức độ trí tuệ thuần túy. Vì trí tuệ không có ảnh hưởng đến những lãnh địa của cảm xúc, thế giới thực tiễn (của chính trị, luật pháp hoặc tâm thần học) tiếp tục bị chi phối bởi các khái niệm thời trung cổ, được đặc trưng bởi sự phóng chiếu cái ác ra bên ngoài. Liệu một cuốn sách có thể giúp mang lại kiến thức về bản chất của cảm xúc? Tôi không biết câu trả lời, nhưng niềm hy vọng rằng các bài viết của tôi sẽ thiết lập một quá trình chuyển biến bên trong ít nhất là đối với một số độc giả cũng đủ để tôi nỗ lực.
Mặc dù quan tâm đến rất nhiều lá thư nhận được từ độc giả của cuốn Bi kịch của đứa trẻ tài năng, nhưng tôi không thể trả lời riêng cho từng người. Đó là nguyên nhân tôi viết cuốn sách này. Việc tôi không thể trả lời trực tiếp độc giả một phần là do hạn chế về thời gian, nhưng tôi cũng sớm nhận ra rằng khi cần trình bày những suy nghĩ và trải nghiệm của mình trong những năm gần đây, tôi phải đi vào rất chi tiết, vì không có tài liệu nào có thể tham khảo. Từ những câu hỏi chuyên môn của các đồng nghiệp và những câu hỏi chung của những người bị ảnh hưởng bởi những vấn đề mà tôi đã mô tả (hai nhóm câu hỏi này không loại trừ lẫn nhau), có hai vấn đề nổi lên: sự khác biệt giữa cách giải thích của tôi về bản chất của thời thơ ấu so với lý thuyết động cơ (drive theory) của phân tâm học[1], và sự cần thiết phải phân biệt rõ ràng giữa cảm giác tội lỗi và cảm giác buồn bã. Vấn đề thứ hai liên quan đến câu hỏi cấp bách và thường xuyên được đặt ra bởi các bậc cha mẹ: Liệu chúng ta có thể làm gì đó cho con mình khi chúng ta đã nhận ra rằng mình là nạn nhân của sự cưỡng chế lặp lại đến thế nào?
Vì tôi không tin vào hiệu quả của việc cho đơn thuốc và lời khuyên, ít nhất là khi muốn thay đổi hành vi vô ý thức, nên tôi không coi nhiệm vụ của mình là khuyên cha mẹ đối xử với con mình theo những cách mà họ không thể làm được. Thay vào đó, tôi xem vai trò của mình là truyền tải cho đứa trẻ bên trong người lớn những thông tin liên quan, dưới dạng sống động và đầy cảm xúc. Chừng nào đứa trẻ bên trong này không được phép nhận thức những gì đã xảy ra với mình, thì một phần đời sống tình cảm của trẻ sẽ bị đóng băng, và sự nhạy cảm với những hạ nhục thời thơ ấu do đó sẽ bị thui chột.
Mọi lời kêu gọi về tình yêu thương, sự đoàn kết và lòng nhân ái sẽ trở nên vô ích nếu thiếu đi điều kiện tiên quyết quan trọng này về sự cảm thông và thấu hiểu.
Thực tế này có ý nghĩa đặc biệt đối với các nhà tâm lý học được đào tạo bài bản, bởi vì nếu không có sự đồng cảm, họ không thể áp dụng kiến thức chuyên môn của mình một cách có lợi, bất kể họ dành bao nhiêu thời gian cho bệnh nhân. Điều này cũng đúng đối với các bậc cha mẹ. Ngay cả khi họ có học thức cao và đủ thời gian, họ vẫn bất lực không thể hiểu con mình chừng nào họ vẫn phải giữ những đau khổ của tuổi thơ của chính mình ở một chỗ xa xôi mà cảm xúc không thể tiếp cận. Ngược lại, một người mẹ vừa phải đi làm lại vừa nuôi con vẫn có thể nắm bắt được tình hình của con mình ngay lập tức, miễn là có sự cởi mở và tự do nội tâm cần thiết.
Vì vậy, tôi thấy nhiệm vụ của mình là phải cảm hóa công chúng trước những đau khổ của tuổi thơ. Khi hướng đến đứa trẻ ở bên trong các độc giả người lớn, tôi cố gắng thực hiện điều này theo hai cách. Trong phần đầu tiên, tôi mô tả “phương pháp sư phạm độc hại”, các phương pháp nuôi dạy trẻ được thực hành để dạy dỗ cha mẹ và ông bà chúng ta. Có thể nhiều độc giả sẽ phản ứng với chương đầu tiên với cảm giác tức giận và thịnh nộ, mà thật ra có thể có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Trong phần thứ hai, tôi kể lại tuổi thơ của một người nghiện ma túy, một nhà lãnh đạo chính trị, và một kẻ sát nhân giết hại các cậu bé, tất cả đều phải chịu sự hạ nhục và ngược đãi nghiêm trọng khi còn nhỏ. Đặc biệt, trong hai trường hợp, tôi dựa trên lời kể của chính họ về thời thơ ấu và số phận sau này của họ, cố gắng đưa người đọc lắng nghe lời khai đau đớn của họ bằng đôi tai phân tích của tôi. Cả ba tiểu sử đều là minh chứng cho vai trò tàn phá của việc nuôi dạy trẻ em, sự hủy hoại cuộc sống, mối nguy hiểm của nó cho xã hội. Ngay cả trong phân tâm học, đặc biệt là trong lý thuyết về động lực (drive), chúng ta cũng tìm thấy dấu vết của sư phạm truyền thống. Đầu tiên tôi dự định dành một chương cho chủ đề này, nhưng phạm vi của nó đã buộc tôi phải đặt nó thành chủ đề của một tác phẩm khác, sẽ sớm xuất hiện[2]. Ở đó, tôi sẽ nhấn mạnh sự khác biệt giữa ý tưởng của tôi và các lý thuyết và mô hình phân tích tâm lý một cách rõ ràng hơn so với các bài viết trước đây của tôi.
Cuốn sách này là sản phẩm của cuộc đối thoại nội tâm của tôi với độc giả của cuốn Bi kịch của đứa trẻ tài năng và được hiểu là phần tiếp theo. Có thể đọc nó mà không cần biết cuốn sách trước, nhưng nếu các chủ đề thảo luận ở đây gợi lên trong người đọc cảm giác tội lỗi hơn là buồn, thì nên đọc tác phẩm kia. Điều quan trọng và hữu ích cần nhớ khi đọc tác phẩm này là, khi tôi nói về cha mẹ và con cái, tôi không muốn nói đến những người cụ thể mà là những điều kiện và tình huống nhất định, hoặc những câu hỏi về mối quan hệ mà tất cả chúng ta quan tâm, bởi vì tất cả các bậc cha mẹ đều đã từng là trẻ em và hầu hết những ai là trẻ em ngày nay một ngày nào đó sẽ trở thành cha mẹ.
Để kết luận, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến một số người mà nếu không có sự trợ giúp của họ, cuốn sách này có thể không bao giờ được viết ra, ít nhất là không ở dạng hiện tại.
Lần đầu tiên tôi nhận thức đầy đủ về sư phạm thực sự là gì là bằng cách trải nghiệm một thứ hoàn toàn trái ngược với nó trong lần trị liệu thứ hai của tôi. Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn vô cùng đặc biệt tới nhà phân tích thứ hai của tôi, Gertrud Boller-Schwing, tác giả của một cuốn sách khác thường về những trải nghiệm của bà với những bệnh nhân trong các cơ sở điều trị, The Way to the Soul of the Mentally Ill. Bản thể (being) luôn quan trọng đối với bà hơn là hành vi (behavior), bà không bao giờ cố gắng “đào tạo” hoặc hướng dẫn tôi, kể cả trực tiếp hay bóng gió. Kết quả của kinh nghiệm này là, tôi đã có thể học được rất nhiều điều theo cách rất riêng của mình, và trở nên nhạy cảm với bầu không khí sư phạm xung quanh tất cả chúng ta.
Vô số cuộc trò chuyện với con trai tôi, Martin Miller, đóng một vai trò quan trọng không kém trong quá trình học tập này. Hết lần này đến lần khác, con tôi buộc tôi phải ý thức về những cưỡng chế vô thức của mình, mà được hình thành trong thời thơ ấu và xuất phát từ sự giáo dục chung của thế hệ tôi. Bản tường trình đầy đủ, rõ ràng của con tôi về những trải nghiệm của mình đóng góp một phần cho sự giải thoát của chính tôi khỏi những những cưỡng chế này, một sự giải phóng chỉ có thể đạt được sau khi tôi đã nghe được những sắc thái tinh vi và nhỏ nhặt của phương pháp sư phạm. Trước khi viết ra nhiều ý tưởng được phát triển ở đây, tôi đã thảo luận kỹ với con trai mình.
Sự trợ giúp của Lisbeth Brunner trong việc chuẩn bị bản thảo là vô giá. Cô không chỉ đánh máy mà còn phản ứng một cách tự nhiên với mỗi chương với sự quan tâm và đồng cảm, do đó trở thành độc giả đầu tiên của tôi.
Cuối cùng, tôi đã may mắn tìm được Friedhelm Herborth của nhà xuất bản Suhrkamp làm biên tập viên, người đã thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về những mối quan tâm của tôi. Anh không bao giờ thấy phù hợp để sử dụng bạo lực với văn bản của tôi, và chỉ đề xuất những thay đổi về phong cách, do đó giữ nguyên vẹn ý nghĩa ban đầu. Trong quá trình lao động của anh với cuốn sách trước của tôi, cách đối xử cẩn trọng của anh đối với lời nói của tôi cũng như sự tôn trọng và thấu hiểu mà anh thể hiện đối với ý tưởng của người khác đã khiến tôi ấn tượng. Tôi tự cho mình là vô cùng may mắn khi được đối xử trân trọng dường ấy.
Chính nhờ sự hưởng ứng nhiệt tình của Siegfried Unseld đối với Bi kịch của đứa trẻ tài năng và những nỗ lực tràn đầy năng lượng của anh nhân danh tôi, mà các tác phẩm của tôi đã không mất hút ở trong danh mục của một nhà xuất bản kỹ thuật, mà còn có thể tiếp cận một cộng đồng rộng lớn các “bệnh nhân”, tức là những người đau khổ mà cuốn sách thực sự được viết cho họ. Vì các biên tập viên của tạp chí chuyên nghiệp Psyche của Đức đã từ chối đăng nghiên cứu đầu tiên trong số ba nghiên cứu tạo thành cuốn The Drama, và vì các nhà xuất bản khác cũng không quan tâm đến tác phẩm của tôi vào thời điểm đó, nên chính sự đón nhận đầy thiện chí của nhà xuất bản Suhrkamp đã giúp việc xuất bản cuốn sách ở Đức trở nên khả thi.
A.M.
Đứa trẻ nằm trong nôi vừa ương ngạnh vừa chứa đầy các loại tình cảm; và tuy thân hình nhỏ bé, nhưng lại có một trái tim xấu [làm việc sai trái], và có khuynh hướng làm điều ác. … Nếu chẳng may cái đốm lửa nhỏ này tăng lên, nó sẽ hoành hành và thiêu rụi cả ngôi nhà. Bởi vì chúng ta thay đổi và trở nên tốt không phải do bẩm sinh mà là do giáo dục. … Vì vậy, các bậc cha mẹ phải cảnh giác và thận trọng … họ phải uốn nắn và nghiêm khắc trừng phạt con cái mình khi chúng nói hoặc làm điều xấu.
ROBERT CLEAVER VÀ JOHN DOD, Cách quản lý gia đình ngoan đạo (1621)
Cái roi dịu dàng của người mẹ là một thứ rất mềm mại và nhẹ nhàng; nó sẽ không làm trầy da hay gãy xương; tuy nhiên, bởi sự ban phước của Đức Chúa Trời với nó, và khi áp dụng nó một cách khôn ngoan, nó sẽ phá vỡ mối dây ràng buộc đã tạo nên sự hư hỏng trong lòng. … Chớ ngại uốn nắn trẻ, vì nếu ngươi dùng roi đánh nó, nó sẽ không chết, ngươi sẽ dùng roi đánh nó và giải thoát linh hồn nó khỏi địa ngục.
JOHN ELIOT, Sự hài hòa của các Phúc âm (1678)
Tâm hồn đứa trẻ muốn có ý chí tự do là điều hoàn toàn tự nhiên, và những việc không được làm đúng trong hai năm đầu sẽ rất khó để sửa chữa sau đó. Một trong những lợi thế của những năm đầu này là có thể sử dụng vũ lực và cưỡng ép. Theo năm tháng, trẻ em sẽ quên đi tất cả những gì đã xảy ra với chúng trong thời thơ ấu. Nếu ý chí của chúng bị phá vỡ trong thời gian này, thì sau này chúng sẽ không bao giờ nhớ là đã có ý chí đó, và vì lý do này nên những hành động nghiêm trọng cần làm với trẻ sẽ không gây ra hậu quả nghiêm trọng nào.
J. SULZER, Một bài luận về giáo dục và dạy trẻ (1748)
Sự bất tuân như vậy được coi là lời tuyên chiến với bạn. Con trai của bạn đang cố gắng chiếm đoạt quyền lực của bạn, và bạn có lý khi đáp trả bằng vũ lực để bảo đảm sự tôn trọng của nó, mà nếu không có điều đó, bạn sẽ không thể huấn luyện nó. Các cú đánh mà bạn thực hiện không nên chỉ là những đòn vui vui, mà phải để thuyết phục con bạn rằng bạn là chủ nhân của nó.
J. G. KRUGER, Một số suy nghĩ về giáo dục trẻ em (1752)
Bằng những cách cưỡng ép, người ta luôn gây ấn tượng lên tôi rằng tôi phải tuân theo ngay tức thì những mong muốn và mệnh lệnh của cha mẹ, giáo viên và cha cố, và thực tế là của tất cả những người trưởng thành, kể cả những người hầu, và rằng không được xao nhãng khỏi bổn phận này vì bất kỳ lý do gì. Bất cứ điều gì họ nói đều luôn đúng. Những nguyên tắc cơ bản mà tôi được nuôi dưỡng từ bé đã trở thành bản chất thứ hai của tôi.
RUDOLF HÖSS, Chỉ huy tại Auschwitz
Những người nắm quyền thật là may mắn khi người dân không có thói quen suy nghĩ.
ADOLF HITLER
[1] Tác giả dịch từ Trieb của Freud là “drive” (động cơ) thay cho “instinct” (bản năng), là lựa chọn của Strachey – dịch giả tiếng Anh chính thức của Freud, mà bà cho là gây hiểu lầm. – Chú thích của người dịch bản tiếng Anh.
[2] Du sollst nicht merken xuất hiện ở Đức vào năm 1981 và được xuất bản ở Hoa Kỳ với tựa đề Thou Shalt Not Be Aware.