Câu ngạn ngữ này (the wogs begin at Calais) nói lên rất nhiều điều về thái độ của người Anh đối với người nước ngoài. Nó phản ánh một quan niệm bẩm sinh coi tất cả các dân tộc bên kia biên giới là một giống khác biệt—tương tự như cách mà trong suốt hàng thiên niên kỷ, cư dân của Trung Hoa (Vương quốc Trung tâm) đã coi bất kỳ ai sống bên ngoài Vạn Lý Trường Thành là những kẻ man di.
Người Anh cảm thấy mình là cư dân của một hòn đảo, cả về mặt địa lý lẫn tâm lý. Trong tâm trí họ, Dover và Calais không chỉ bị ngăn cách bởi eo biển, mà còn bởi một rào cản tâm lý; bên kia rào cản ấy là một thế giới hoàn toàn khác biệt. Trong khi người Đức, Pháp, Thụy Điển hay Ý có thể coi quê hương mình chỉ là một trong số nhiều quốc gia châu Âu, thì người Anh lại theo bản năng đặt nước Anh đối lập với “lục địa” (châu Âu lục địa). Đối với họ, tất cả các quốc gia và dân tộc châu Âu khác đều hiện lên như những thực thể tách biệt, nằm ngoài phạm vi của họ.
Nếu một người không thể công nhận và cân nhắc các quan điểm khác nhau, thì đặc điểm hành vi này được gọi là tính ngã quy (egocentrism, còn dịch là duy kỷ, tránh nhầm lẫn với vị kỷ hay ích kỷ egoism. Vị kỷ / ích kỷ là sự chú trọng về mặt động cơ hoặc đạo đức vào lợi ích của bản thân, trong khi ngã quy là một hạn chế về mặt nhận thức trong việc nhìn nhận sự vật từ quan điểm của người khác). Một người không thể đặt mình vào vị trí của người khác, gặp khó khăn trong việc thấu hiểu hoặc đồng cảm với đối phương, và luôn tin chắc rằng chỉ quan điểm của mình mới đúng đắn thì được coi là người có tính ngã quy. Mặc dù tính ngã quy được xem là bình thường ở trẻ em, nhưng ở người trưởng thành, nó lại gắn liền với một số vấn đề về sự phát triển. Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về tính ngã quy và liệu có thể khắc phục nó hay không.
Khi bạn sống giữa những người Anh, bạn sẽ dần dần bị thuyết phục rằng, thứ nhất họ là những người cực kỳ tuân thủ luật pháp, và thứ hai họ là những người theo chủ nghĩa cá nhân một cách nhiệt thành. Làm thế nào mà hai đặc điểm dường như không tương thích này được kết hợp trong tính cách của họ? Có vẻ như chìa khóa của nghịch lý này, và hơn thế – chìa khóa để hiểu bản chất Anh, được tìm thấy trong các từ “luật chơi”, trong sức nặng ngữ nghĩa đặc biệt mà chúng có ở Quần đảo Anh. Người Anh có xu hướng coi các chuẩn mực hành vi như một loại quy tắc của trò chơi. Đạo đức thể thao đóng vai trò là xương sống của đạo đức công cộng của họ. Mặc dù ngọn đuốc Olympic lần đầu tiên được thắp sáng ở Hy Lạp cổ đại, nhưng về cơ bản nước Anh mới là nơi khai sinh ra các môn thể thao hiện đại. Tất cả các thuật ngữ thể thao quốc tế đều nhắc nhở chúng ta về điều này, có thể nói, chúng được mượn từ tiếng Anh từ đầu đến cuối, bao gồm cả từ “sportman”.
Ngôn là lời nói con người ở dạng âm thanh, không được quy chuẩn (ví dụ như khi viết). Ngữ là lời nói (hoặc âm thanh trong trường hợp của động vật) tuân thủ theo một chuẩn nào đó, nhất là khi viết. Như vậy thì ngôn sẽ tự do hơn, tùy tiện hơn nhưng có nội dung đầy đủ (có ý) trong khi ngữ chỉ là hình thức (ví dụ ngụ ngôn là truyền đạt một ẩn ý nào đó, còn mật ngữ là mã giao tiếp bí mật). Ngữ còn được hiểu là một cụm từ (phrase) không đầy đủ ý nghĩa (chưa thành câu) nhưng chặt chẽ về quy tắc (ngữ pháp). Ngôn cũng là thứ trong bối cảnh sống, còn ngữ thì vì là chuẩn mực nên không quan trọng có đang ‘sống’ hay không (vd tử ngữ – chỉ còn ngữ mà ko còn ngôn, cổ ngữ). Vì vậy nên:
có ngữ pháp (grammar), ngữ nghĩa (semantics) mà không có ngôn pháp, ngôn nghĩa.
có loạn ngôn, cuồng ngôn mà không có loạn ngữ, cuồng ngữ. Đồng thời có ngữ bệnh mà không có ngôn bệnh (ngôn thế nào cũng không sai, nhưng có thể bị cho là loạn hay cuồng)
có ngoại ngữ, quốc ngữ chứ không có ngoại ngôn, quốc ngôn – đều có yếu tố chuẩn tắc.
các thành phần có tính chuẩn tắc: ẩn ngữ, mật ngữ, vị ngữ, chủ ngữ, uyển ngữ, sáo ngữ, thuật ngữ – không có đối với ngôn. (Thuật ngữ không chỉ là các từ kỹ thuật mà còn cả các cụm từ, tức là các ngữ)
ngữ có thể chỉ tiếng hót của chim chóc, côn trùng, và chỉ hệ mã phi âm thanh (thủ ngữ – ra hiệu bằng tay, thiền ngữ – tiếng ve sầu)
liên quan đến lời nói trực tiếp thì dùng ngôn: trực ngôn, thông ngôn, phát ngôn, nhất ngôn (quân tử nhất ngôn), tuyên ngôn, ngụ ngôn
Có sự trùng lặp khi nói về lời đúc kết của người xưa: tục ngữ, ngạn ngữ, thành ngữ vs châm ngôn, cách ngôn, danh ngôn.
Từ
Từ thì rõ ràng hơn, không bị lẫn như giữa ngôn và ngữ. Từ là các đơn vị có thể thống kê đầy đủ nên có từ vựng (lexicon hoặc vocabulary), cũng có thể gọi là từ khố (kho chứa các từ), từ vị hay tự vị (vị = vựng, sách Quấc âm tự vị).
Nhưng cũng có sự chồng lấn:
với ngữ: ví dụ ngữ vựng = từ vựng.
với ngôn: ví dụ thất ngôn bát cú (8 câu 7 từ), thất ngôn tứ tuyệt (4 câu 7 từ). Tuyệt ở đây là cách nói tắt của tuyệt cú. Đôi khi người ta dùng ngôn từ để chỉ cách dùng từ, còn ngôn ngữ thì bao trùm tất cả.
Câu (cú)
Câu cũng là khái niệm rõ ràng. Tuy nhiên các quy tắc chủ yếu dành cho ngữ nên khái niệm ngữ pháp (grammar) bao trùm khái niệm cú pháp (syntax).
Trên đây là những gì tôi đang mày mò tìm hiểu (vì không tìm thấy nguồn nào giải thích cặn kẽ), chắc còn nhiều sai và sót. Mong được góp ý qua comment.
Liệu phương pháp nuôi dạy con của người Anh có hợp lý? Xét về lâu dài, nó có mang lại lợi ích cho tâm lý và tính cách của trẻ hay không? Ý kiến về vấn đề này có thể khác nhau. Tuy nhiên, hiếm ai phủ nhận kết luận rằng hệ thống này cũng để lại dấu ấn lên chính các bậc cha mẹ. Việc kìm nén những biểu hiện tình cảm tự nhiên dành cho con cái và chế ngự các cảm xúc bộc phát bằng tự kiểm soát tất yếu sẽ dẫn đến nhiều hệ quả—trong đó, hệ quả rõ ràng và vô hại nhất chính là niềm đam mê dành cho thú cưng.
Ai đó phải lấp đầy khoảng trống trong lòng cha mẹ do sự xa cách về mặt cảm xúc với con cái tạo ra. Những tình cảm gắn bó cần một nơi để giải tỏa. Suy cho cùng, trong khi việc công khai thể hiện sự âu yếm với con mình—ngay cả khi ở chốn riêng tư—bị coi là điều không nên, thì việc dành tình yêu nồng nhiệt và cuồng nhiệt cho một chú chó ở nơi công cộng lại được xem là hoàn toàn chấp nhận được. Nhưng liệu sự gắn bó với thú cưng có thể đóng vai trò là một sự thay thế thỏa đáng?
Kể từ khi khoa học ra đời vào thế kỷ 17, chúng ta đã gạt bỏ thần thoại, coi đó là sản phẩm của những tư duy mê tín và sơ khai. Chỉ đến nay, chúng ta mới bắt đầu hiểu sâu sắc hơn về bản chất và vai trò của thần thoại trong lịch sử nhân loại. Trong năm bài giảng này, nhà nhân học xã hội lỗi lạc Claude Lévi-Strauss chia sẻ những hiểu biết đúc kết từ cả cuộc đời nghiên cứu, giải mã thần thoại và nỗ lực khám phá tầm quan trọng của chúng đối với hiểu biết của con người.
Với tựa đề Thần thoại và Ý nghĩa (Myth and Meaning), các bài nói chuyện này đã được phát sóng trong chương trình Ideas của đài CBC Radio vào tháng 12 năm 1977. Nội dung chương trình được tổng hợp từ những cuộc trò chuyện dài giữa GS Lévi-Strauss và Carole Orr Jerome – nhà sản xuất tại văn phòng CBC ở Paris. Chương trình do Geraldine Sherman (nhà sản xuất của Ideas) tổ chức và Bernie Lucht trực tiếp sản xuất.
Cuốn sách vừa ra mắt đầu tháng 9 này của Angela Duckworth có tựa là Situated (tôi tạm dịch là Trong Bối cảnh), và là một bổ trợ rất hợp lý cho cuốn trước của cô có tựa là Grit (bản dịch tiếng Việt: Vững tâm bền chí ắt thành công).
Vững tâm bền chí tất giúp tăng khả năng thành công, nhưng việc đặt mình vào một bối cảnh thích hợp sẽ làm tăng xác suất thành công lên nhiều lần và cũng bớt đi nhiều áp lực ý chí. Thay vì cố gắng sắt đá để vượt qua nghịch cảnh, thì khôn ngoan hơn sẽ là chủ động chọn cho mình các điều kiện thuận lợi hơn (mà ta gọi chung là bối cảnh).
Một người nghị lực và dũng cảm như Odyssey cũng đã lường trước được ngưỡng ý chí của mình, và khôn ngoan yêu cầu thủy thủ đoàn trói mình vào cột buồm để không bị các siren cám dỗ.
Tác giả đề xuất một mô hình rất đơn giản dưới dạng 3 cái hộp (hình). Thông thường khi ta có một phản ứng nào đó bất lợi, ta sẽ hối hận và tự nhủ lần sau sẽ không phản ứng như vậy nữa, đó là cải tiến ở hộp 1 (bên phải). Phản ứng đó nảy sinh là do suy nghĩ của chúng ta, do đó một cách tốt hơn là thay đổi cách suy nghĩ chứ ko chỉ thay đổi phản ứng – khi suy nghĩ đã thay đổi thì tự khắc phản ứng thay đổi, đó là cải tiến ở hộp 2 (giữa). Thường thì người ta dừng ở đây, mà không đặt câu hỏi tại sao không thay đổi toàn bộ bối cảnh (kiểu như tạo “thế” mới như Tôn Tử dạy), thì mọi thứ sẽ thay đổi theo, đó là cải tiến ở hộp 3 (bên trái).
Ví dụ bố mẹ thường mắng con khi con hay mang về điểm toán kém. Bố mẹ có thể tự thấy không ổn và tìm cách kìm nén không mắng nữa (hộp 1). Bố mẹ có thể thay đổi tư duy, cho rằng con cần sự động viên hơn là trách mắng (hộp 2). Và bố mẹ cũng có thể chuyển cho con sang học một lớp khác có thầy dạy toán phù hợp hơn (hộp 3). Ta không phải là cái cây, ta có chân, vậy tội gì không đi ra chỗ tốt hơn. Việc thay đổi chỗ làm cũng vậy, tôi đã thấy nhiều người đến hoặc rời FPT để có bối cảnh phù hợp hơn cho mục đích của họ.
Theo tác giả, bối cảnh bao gồm 4 vòng từ trong ra ngoài: không gian của ta, đồng bọn (peers), mentors và văn hóa. Bản thân việc điều chỉnh không gian cũng đã tạo sự khác biệt lớn, ví dụ đơn giản: bố trí không gian trong nhà thuận lợi cho trẻ tập trung học hành không bị quấy rầy. Bối cảnh tốt là bối cảnh vừa thách thức lại vừa hỗ trợ (hình), rất khớp với kiểu nuôi dạy con Quyền uy (Authoritative) là kiểu hiệu quả nhất với trẻ.
Cuối sách có hướng dẫn áp dụng lý thuyết cho bố mẹ, sếp, và cho bản thân. Hy vọng bản tiếng Việt sẽ sớm ra mắt.
Olga Berggolts (1910-1975) được biết đến ở VN qua thơ tình và các bài thơ giai đoạn Leningrad bị bao vây. Nhưng bà còn làm thơ về thời kỳ khủng bố của Stalin, giai đoạn mà bản thân bà bị kết tội oan và bị bắt giam 2 lần, cả 2 lần đều vào lúc mang thai. Bà đã bị thẩm vấn và tra tấn, và rốt cuộc 2 đứa con đều chết khi sinh ra, còn bà cũng mất khả năng làm mẹ. Sau này bà viết: “Họ đã xé toạc tâm hồn tôi, lục lọi trong nó bằng những ngón tay hôi hám, nhổ vào nó, làm ô uế nó, rồi nhét nó trở lại và bảo: ‘Hãy sống đi!’“. Dưới đây là một bài thơ của bà (có vẻ được viết năm 1941 và được biểu diễn năm 1965):
Những người thành công thường tỏ ra kiên trì (persistent). Những ý tưởng mới ban đầu thường không hiệu quả nhưng họ không nản lòng. Họ tiếp tục cố gắng và cuối cùng tìm thấy thứ gì đó hiệu quả.
Mặt khác, ngoan cố (obstinacy) thuần túy là công thức dẫn đến thất bại. Những người ngoan cố thật khó chịu. Họ không lắng nghe. Họ húc đầu vào tường và chẳng đi đến đâu.
Nhưng liệu có khác biệt thực sự giữa hai loại người này? Người kiên trì và người ngoan cố có thực sự hành xử khác nhau không? Hay họ đang làm điều tương tự, và sau này chúng ta chỉ dán nhãn cho họ là kiên trì hay ngoan cố tùy thuộc vào việc rốt cuộc họ có đúng hay không?
Thỉnh thoảng, tôi được các bạn trẻ hỏi xin lời khuyên về cuộc sống. Họ muốn tôi tư vấn khi đang cân nhắc các quyết định: thử làm gì đó mới, bỏ công việc hiện tại, làm việc cho một tổ chức phi lợi nhuận, v.v. Những băn khoăn của họ thường ẩn chứa nỗi lo về tài chính. Tôi thường có một cách trả lời quen thuộc, tôi đề nghị họ thử tưởng tượng ra tình huống này:
Hãy tưởng tượng tôi là một phù thủy với cây đũa thần trên tay. Tôi vẫy đũa và biến bạn thành người sở hữu một tỷ đô. Lúc đó, bạn sẽ làm gì với cuộc đời mình? Giá cả của mọi thứ không còn là vấn đề đáng bận tâm nữa. Bạn sẽ dùng số tiền đó vào việc gì?