J.J. Rousseau chính là cha đẻ của ngành Nhân học

Tác giả: Claude Levi-Strauss
Xuất bản lần đầu: Rousseau, pere de l’ethnologie / ‘/ Le Courrier. 1963. Số 3.

Việc một nhà nhân học được mời dự lễ kỷ niệm này mang đến cho ngành khoa học non trẻ của chúng tôi cơ hội để tỏ lòng thành kính với một người nổi tiếng về thiên tài nhiều mặt của mình, bao gồm văn học, thơ ca, triết học, lịch sử, đạo đức học, xã hội học, sư phạm, âm nhạc, thực vật học – và đấy vẫn chưa phải là tất cả các khía cạnh của công việc của ông.

Continue reading

Nhân viên sẵn sàng “bán mình” giá bao nhiêu?

Mô hình này nói về chiến lược tạo giá trị của một công ty. WTP (willingness to pay) là khoản tiền mà khách hàng sẵn lòng trả để mua hàng hóa dịch vụ của công ty. WTS (willingness to sell), nếu nói về người lao động, là khoản thu nhập đủ để họ sẵn lòng làm việc cho công ty.

Hiệu số của 2 cái này là giá trị (value) mà công ty tạo ra. Giá trị đó được chia làm 3 cục. Cục trên do khách hàng hưởng, vì họ phải trả tiền (price) thấp hơn so với số tiền mà họ sẵn lòng trả. Cục dưới do nhân viên hưởng, vì nhận được nhiều hơn so với mức thu nhập mà họ sẵn lòng nhận. Cục giữa là lợi nhuận của công ty.

Công ty có thể tăng lợi nhuận bằng cách đẩy Price lên hoặc Compensation xuống, nhưng chúng bị chặn bởi WTP và WTS. Do đó, công ty phải tìm cách tăng WTP và giảm WTS, tức là tăng giá trị do mình tạo ra. Nếu value lớn, công ty có thừa không gian để điều chỉnh 3 cục. Việc giảm WTS có thể bằng cách tạo ra điều kiện làm việc mà người lao động thích đến nỗi sẵn sàng nhận lương thấp hơn so với thị trường, hoặc thiết kế công việc sao cho, thay vì cần người giỏi, có thể sử dụng những người có năng lực thấp hơn.  

Tham khảo video chi tiết

Chín đứa con của Rồng (Long sinh cửu tử)

Có nhiều phiên bản khác nhau về thành phần của chín loài vật thần thoại này, dưới đây là tóm tắt sau khi tôi tìm hiểu một số nguồn.

Trong bài “Tết trung thu” năm 1942 của Nguyễn Văn Huyên (có trong sách “Hội Hè Lễ Tết của Người Việt”), ông kể rằng rồng đẻ 10 quả trứng, và chỉ có quả đầu tiên nở thành rồng, 9 quả còn lại nở thành các con vật hoang đường. Khi nói về 9 con vật đó, thật ra ông nói về 11 con, vì có 3 con được gộp vào hàng thứ chín (là Tiêu Đồ, Tù Ngưu và Trào Phong).

Nguồn tiếng Trung và tiếng Anh trên wikipedia cũng như nhiều nguồn tiếng Việt thì nhắc đến “Long sinh cửu tử”, chứ không thấy nói về 10 đứa con. Có nhiều phiên bản khác nhau và được tổng hợp thành bảng sau:

#TÊN GỌITHÍCHTRÔNG GIỐNGTHẤY Ở ĐÂU?
1bí Hí, (còn gọi là Bá Hạ 霸下 – phân biệt với Bá Hạ #6, cùng phiên âm nhưng viết khác)tải nặngrùaĐội bia (là con này chứ ko phải rùa)
2Li Vẫn (Si vẫn, Xi Vẫn, Ly Thủ)NuốtĐầu rồng mình cáĐầu xà nhà
3Bồ LaoKêuRồng conQuai treo chuông
4Bệ NgạnKiện tụngHổCửa nhà tù, cửa công đường
5Thao ThiếtĂnCon thú hung dữTrang trí mặt đồng (con này xuất hiện trong phim The Great Wall năm 2016)
6Bá Hạ 𧈢𧏡 (Công Phúc)NướcRồngThoát nước, trụ cầu
7Nhai Tí (Nhai Xế, Nhai Tệ)Đánh nhauChó sói đầu rồngVòng dao, chuôi kiếm
8Toan NghêKhóiSư tửChân lư hương, sư tử trên chỗ Phật tọa
9Tiêu ĐồVắng, yên tĩnhCon traiTay nắm trên cửa cổng vào nhà
10Tù NgưuÂm luậtRồng vàngNhạc cụ
11Trào PhongSự nguy hiểm, nhìn xaPhượng hoàngMái Nhà (dõi mắt ra xa)
12Phụ HíViết, thư phápMình rồng đầu sư tửCuộn mình trên đỉnh đài, đỉnh bia

Năm Thìn 2012, chính quyền Thượng Hải phát hành bộ 10 đồng tiền xu gồm cha Rồng và 9 đứa con theo thứ tự sau: Bệ Ngạn, Bí Hí, Trào Phong, Xi Vẫn, Phụ Hí, Bồ Lao, Tù Ngưu, Toan Nghê, Nhai Tí.

Nhiều nguồn tiếng Việt lấy hình ảnh các bức tượng trên nóc điện Thái Hòa ở Tử Cấm Thành Bắc Kinh (gọi là Tích Thú, Ốc Tích Thú) để minh họa cho 9 con của rồng, nhưng thật ra đấy là một tập hợp khác, bao gồm: Long, Phượng, Sư tử, Thiên Mã, Hải Mã, Toan Nghê, Hạp Ngư, Giải Trãi, Đẩu Ngưu, Hàng Thập.

Levi-Strauss. Ba thế hệ của thuyết nhân văn

“Les Trois humanismes”. Xuất bản lần đầu trên tạp chí Demain (1956, số 35). Được xuất bản bằng tiếng Nga trong tạp chí “Niên giám của Hiệp hội Triết học Liên Xô”, 1987-1988. Bài này dịch từ bản tiếng Nga.

Tiêu đề bài có thể được dịch là “ba làn sóng” hoặc “ba thế hệ” của chủ nghĩa nhân văn (thuyết nhân văn), vì nói đến ba hình hệ nối tiếp nhau trong nghiên cứu về văn hóa con người.

Đối với hầu hết chúng ta, nhân học dường như là một ngành khoa học mới, là bằng chứng về sự tò mò tinh tế của con người hiện đại. Trong lĩnh vực thẩm mỹ của chúng ta, các tác phẩm nghệ thuật sơ khai mới chỉ có vị trí cách đây chưa đầy năm mươi năm. Bản thân sự quan tâm đến các xã hội nguyên thủy thì có nguồn gốc xưa hơn một chút – các công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về lĩnh vực này xuất hiện khoảng năm 1860, tức là vào thời đại mà Charles Darwin đặt ra vấn đề tiến hóa trong lĩnh vực sinh học. Sự tiến hóa này, theo những người cùng thời với ông, cũng phản ánh sự tiến hóa của con người về mặt xã hội và tinh thần.

Continue reading

Phân biệt: văn hóa học và nhân học văn hóa

Văn hóa học (Culturology, Культурология) được đề xuất như một ngành khoa học độc lập trong các ngành khoa học xã hội. Khái niệm này tuy được đề xuất bởi một nhà nhân học Mỹ, nhưng không được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và châu Âu, mà có lẽ chỉ phổ biến ở Nga. Ở Anh, lĩnh vực tương đương được gọi là Cultural Studies (xem ở dưới).

Ở Nga, thuật ngữ “Văn hóa học” để chỉ khoa học về văn hóa đã được đưa vào nghiên cứu về văn hóa vào đầu những năm 1990. Nó bao gồm các vấn đề mang tính khái niệm cơ bản về lý thuyết và lịch sử văn hóa, cũng như các ngành khoa học riêng biệt về các loại hình và hiện tượng khác nhau của văn hóa và của đời sống văn hóa của con người.

“Văn hóa học” nghiên cứu văn hóa với tư cách là một khoa học thống nhất, bao gồm các lĩnh vực nghiên cứu về: lịch sử của văn hóa, triết học về văn hóa, v.v. và cả Nhân học Văn hóa. Trong số đó, ngành khoa học cơ bản được coi là Nhân học Văn hóa.

Gần đây, các tác giả Nga có xu hướng sử dụng thuật ngữ Nhân học Văn hóa thay cho “Văn hóa học”. Ví dụ, tác giả A.A. Belik đã viết cuốn sách giáo khoa đại học năm 1998 có tên là “Văn hóa học. Các lý thuyết nhân học văn hóa” (Белик А. А. Культурология. Антропологические теории культур) *, nhưng đến năm 2009, tác giả ra phiên bản mới có tên là “Nhân học Văn hóa (Nhân học Xã hội)” (Культурная (социальная) антропология), và trong sách không hề nhắc đến từ culturologia nữa.

Nghiên cứu Văn hóa (Cultural Studies) được cho là cách gọi khác của “Văn hóa học” và được sử dụng ở Anh. Đó là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu các hiện tượng văn hoa đương đại, bao gồm cả văn hóa đại chúng (pop). Nghiên cứu Văn hóa quan tâm tìm hiểu quan hệ của các hoạt động văn hóa với các hệ thống quyền lực gắn với, hoặc thực hiện thông qua, các hiện tượng xã hội. Ví dụ hệ tư tưởng, cấu trúc giai cấp, sắc tộc, v.v.

Như vậy, có thể hiểu Văn hóa học tương đương Nghiên cứu Văn hóa và bao trùm Nhân học Văn hóa. Tại sao Nhân học Văn hóa (Cultural Anthropology) được coi là khoa học cơ bản trong số các ngành nghiên cứu về văn hóa? Bởi vì văn hóa gắn với cộng đồng người, và để hiểu nguồn gốc, bản chất và các quy luật (nếu có) của văn hóa, người ta phải nghiên cứu những cộng đồng người từ lúc sơ khai và trong một thời gian dài. Từ đó họ mới tìm ra và đề xuất các thuyết phổ quát như tiến hóa, phán tán, chức năng hay cấu trúc, của văn hóa, rồi từ đó giải thích các hiện tượng văn hóa chứ không chỉ mô tả chúng. Vì vậy Nhân học Văn hóa là bước phát triển của Dân tộc học (Ethnography).

Có thể nói, Nhân học Văn hóa nghiên cứu tâm lý của cộng đồng người, giống như Tâm lý học nghiên cứu tâm lý của một cá nhân. Và nếu các kết quả Tâm lý học cho phép ta mô tả, giải thích, dự báo và thay đổi hành vi của con người, thì Nhân học Văn hóa cũng sẽ phải mô tả, giải thích, dự báo được các hiện tượng văn hóa, và xác định những hành động có thể làm để thay đổi văn hóa.

(*) Quyển này được dịch ra tiếng Việt năm 1999, nằm trong Tủ sách Văn hóa học của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy và các cộng sự.

C. Lévi-Strauss. Cấu trúc luận và Sinh thái (4/4)

Bài báo này là bản ghi lại một bài giảng của C. Levi-Strauss bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ vào năm 1972 cho sinh viên tại Đại học Barnard. Ấn bản đầu tiên: Structuralism and Ecology: Geedersleeve lecture, delivered at Barnard College, March 28 // Barnard Alumnae, Spring 1972, p. 6—14. Tái bản năm 1973 (bằng tiếng Anh) tại Paris; bản dịch sang tiếng Pháp được Lévi-Strauss đưa vào tuyển tập các bài báo Le regard eloigne. Paris: Plon, 1983.

Continue reading

C. Lévi-Strauss. Cấu trúc luận và Sinh thái (3/4)

Bài báo này là bản ghi lại một bài giảng của C. Levi-Strauss bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ vào năm 1972 cho sinh viên tại Đại học Barnard. Ấn bản đầu tiên: Structuralism and Ecology: Geedersleeve lecture, delivered at Barnard College, March 28 // Barnard Alumnae, Spring 1972, p. 6—14. Tái bản năm 1973 (bằng tiếng Anh) tại Paris; bản dịch sang tiếng Pháp được Lévi-Strauss đưa vào tuyển tập các bài báo Le regard eloigne. Paris: Plon, 1983.

Continue reading

C. Lévi-Strauss. Cấu trúc luận và Sinh thái (2/4)

Bài báo này là bản ghi lại một bài giảng của C. Levi-Strauss bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ vào năm 1972 cho sinh viên tại Đại học Barnard. Ấn bản đầu tiên: Structuralism and Ecology: Geedersleeve lecture, delivered at Barnard College, March 28 // Barnard Alumnae, Spring 1972, p. 6—14. Tái bản năm 1973 (bằng tiếng Anh) tại Paris; bản dịch sang tiếng Pháp được Lévi-Strauss đưa vào tuyển tập các bài báo Le regard eloigne. Paris: Plon, 1983.

Continue reading

C. Lévi-Strauss. Cấu trúc luận và Sinh thái (1/4)

Bài báo này là bản ghi lại một bài giảng của C. Levi-Strauss bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ vào năm 1972 cho sinh viên tại Đại học Barnard. Ấn bản đầu tiên: Structuralism and Ecology: Geedersleeve lecture, delivered at Barnard College, March 28 // Barnard Alumnae, Spring 1972, p. 6—14. Tái bản năm 1973 (bằng tiếng Anh) tại Paris; bản dịch sang tiếng Pháp được Lévi-Strauss đưa vào tuyển tập các bài báo Le regard eloigne. Paris: Plon, 1983.

Continue reading