Sáu quy tắc của George Orwell

Sáu quy tắc cơ bản trong việc viết, của George Orwell, được tờ The Economist đưa vào Style Guide nổi tiếng của mình. Theo họ, các quy tắc này giúp tác giả viết được những bài dễ hiểu nhất với người đọc, họ không phải mất công động não (The first requirement of The Economist is that it should be readily understandable. Clarity of writing usually follows clarity of thought. So think what you want to say, then say it as simply as possible)

George Orwell’s six elementary rules (“Politics and the EnglishLanguage”, 1946):

1. Never use a metaphor, simile or other figure of speech which you are used to seeing in print – Đừng bao giờ sử dụng các phép ẩn dụ, so sánh hoặc các lối nói khác mà bạn thường thấy trên báo in
2. Never use a long word where a short one will do – Đừng bao giờ sử dụng một từ dài, nếu có thể dùng một từ ngắn tương đương
3. If it is possible to cut out a word, always cut it out – Nếu có thể cắt bỏ một từ, hãy luôn cắt bỏ nó đi
4. Never use the passive where you can use the active – Đừng bao giờ sử dụng dạng bị động ở những chỗ có thể sử dụng dạng chủ động.
5. Never use a foreign phrase, a scientific word or a jargon word if you can think of an everyday English equivalent – Đừng bao giờ sử dụng một cụm từ nước ngoài, một từ khoa học hoặc một từ lóng nếu bạn có thể nghĩ ra một từ tương đương của tiếng Anh giao tiếp.
6. Break any of these rules sooner than say anything outright barbarous – Hãy phá bỏ bất cứ quy tắc nào ở trên, nếu kết quả nhận được là gì đó ấn tượng

Tham khảo: The Economist Style Guide

Phân biệt: định kiến, thành kiến và thiên kiến

Chúng đều là những quan điểm, niềm tin có trong đầu bạn và không chính xác, không được khẳng định qua thực tế (fact) hoặc có nhưng không đầy đủ (khẳng định vội vàng). Chúng khác nhau ở chỗ:

Continue reading

Viện sĩ Gelfand – không học lớp 10 và chưa từng là sinh viên

Israel Gelfand (1913-2009) – một trong những nhà toán học vĩ đại nhất thế kỷ 20, tác giả của nhiều công trình lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng phương pháp toán học trong lĩnh vực vật lý, địa chấn, sinh học, sinh lý thần kinh, y học. Sinh ra ở làng Okny, Ukraina. Sau khi chỉ tốt nghiệp chín lớp phổ thông, không học đại học, ông vào làm nghiên cứu sinh Khoa Toán Cơ MGU, ở tuổi 27, trở thành tiến sĩ khoa học và ở tuổi bốn mươi – là viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Gelfand là người giành được nhiều giải thưởng quốc gia và quốc tế; tiến sĩ danh dự của bảy trường đại học nước ngoài, bao gồm Harvard và Oxford; thành viên nước ngoài danh dự của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoa Kỳ.

Continue reading

Tại sao Louis Armstrong luôn đeo Ngôi sao David?

Một trong những nhạc công nổi tiếng nhất thế kỷ XX, Louis Armstrong, là cháu của nô lệ da đen được đưa đến Mỹ.  Ông sinh ra và trải qua tuổi thơ trong nghèo khó.

Trong hồi ký của mình do Đại học Oxford xuất bản, ông kể về những năm tháng đầu đời đã được nuôi dưỡng và thay đổi bởi một gia đình Do Thái nghèo.

Continue reading

Review sách: Cha mẹ độc hại

Skybooks phát hành, 2018

Con cái được dạy và định hướng bởi xã hội rằng chúng phải yêu quý, biết ơn, nghe lời, phục tùng bố mẹ gần như tuyệt đối. Có một câu nói rất phổ biến và được tung hô nhiều “đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ, gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”. Đó là câu nói không đúng và nguy hiểm vì gây ảo tưởng.

Trong cuốn “cha mẹ độc hại” (toxic parents), tác giả nêu ra và phân tích các loại cha mẹ bạo hành và gây tổn thương tâm lý suốt đời cho con trẻ, bao gồm các loại cha mẹ kiểm soát từng li từng tý, bạo hành lời nói, thể xác, tình dục, v.v. Sau đó, ở phần 2, tác giả đưa ra các hướng dẫn để người đọc-nạn nhân tự chữa lành cho mình, hoặc đi tìm sự trợ giúp.

Có một điểm cần lưu ý là tác giả tỏ thái độ gay gắt hơi quá đối với các bố mẹ trong câu chuyện, và đánh giá động cơ hành vi của họ là tiêu cực. Có thể đó là vì tác giả muốn đẩy sự phẫn nộ của người đọc lên cao trào, ngõ hầu vượt qua được rào cản tâm lý về bố mẹ mình. Trong thực tế, có thể các bố mẹ có động cơ tốt, muốn tốt cho con cái nhưng đã hành động theo cách gây tổn thương cho chúng.

Tác giả cũng chỉ ra sai lầm của Freud (như Alice Miller đã chỉ ra) cho rằng các chuyện lam dụng tình dục là do trẻ con tưởng tượng ra chứ không có thật. Sai lầm này đến nay vẫn còn gây ra hậu quả là những chuyện như vậy bị che giấu hoặc bỏ qua.

Nếu bạn không phải là nạn nhân của bạo hành gia đình thuở nhỏ, thì cũng nên đọc để biết để có cách yêu thương và chăm sóc con cái đúng, và giúp những người đã từng bị tổn thương.

Tác giả có dẫn 2 cuốn sách nổi tiếng của nhà tâm lý học Alice Miller, Prisoners of Childhood và For Your Own Good – các độc giả nên tìm đọc để hiểu rõ hơn các cơ chế tâm lý trong vấn đề bạo hành và gây tổn thương cho trẻ nhỏ.

Tham khảo bài review tiếng Việt chi tiết hơn.

Trust vs Confidence

Trust là tin vào con đường mà mình chọn. Tin vào cách mình làm, dù chưa chắc đã bảo đảm kết quả (process vs outcome)

Confidence là tin mình sẽ có kết quả tốt, tin rằng mình chắc thắng vụ này, sẽ thi đỗ.

Trust sẽ khiến bạn kiên tâm rèn luyện năng lực, confidence có thể khiến bạn chọn cách đi tắt, gian lận, khôn lỏi. Trust sẽ không làm bạn thất vọng, confidence thì vừa dễ gây thất vọng vừa dễ gây ảo tưởng.

Ai cần nghe lời ai?

Khi có tâm sự, người lớn muốn nói và được ai đó lắng nghe. Họ không muốn bị cắt ngang dù là bằng những lời khuyên thông thái. Cho nên gọi là trút bầu tâm sự. Vậy mà người lớn, nhất là bố mẹ và thầy cô, lại ít khi cho trẻ giãi bày. Họ hầu như ngay lập tức chấm dứt câu chuyện và đưa ra những kết luận, nhận định hay lời khuyên mà theo họ là trẻ cần.

Đó là vì người lớn hiểu rõ vấn đề mà trẻ gặp phải, biết tỏng lời giải, nên đưa ra luôn. Nhiều phần là có ý tốt. Nhưng làm như vậy, họ đã bỏ mất một số điểm quan trọng:

  • Hiểu được cảm xúc của trẻ trong chuyện đó, vì tuy vấn đề là giống nhau, nhưng cảm xúc thì lại rất riêng – đứa trẻ thấy hoang mang, bất công hay tội lỗi?
  • Hiểu được trình tự tư duy của trẻ – tại sao chúng lại nghĩ thế, làm thế. Cũng như cảm xúc, mỗi đứa trẻ có một logic tư duy riêng mà người lớn nên tìm hiểu.
  • Cho trẻ cơ hội rèn luyện trình bày
  • Cho trẻ cơ hội tự tìm ra giải pháp, nhờ những câu hỏi của người lớn.

Người lớn không nên tự cho rằng mình đã biết tất cả và đưa ra ngay một phán quyết đầy thuyết phục. Ngược lại, luôn cần tò mò tìm hiểu cảm xúc và tư duy của đứa trẻ, đặt những câu hỏi mang tính khám phá, để giúp trẻ làm chủ cảm xúc, quan sát, suy nghĩ và giải quyết vấn đề. Tất nhiên là mất công, nhưng rất đáng để làm, vì những lúc trẻ có tâm sự là lúc chúng học được nhiều. Nếu người lớn không chủ động giúp chúng học, thì chúng cũng sẽ học được gì đó mà có thể không phải là thứ người lớn muốn.

Câu “nghe lời” nên dành cho người lớn hơn là cho trẻ con. Người lớn cần nghe nhiều hơn, nói ít hơn. Hãy để trẻ nói, và hãy hỏi để chúng nói nhiều hơn nữa. Nếu không, sau này đừng kêu tại sao bọn trẻ không chịu chia sẻ.

Bạn có đang nghe lời con cái hay học trò của mình?

10 điều dặn con vào lớp một

Tranh Jimmy Liao

Tôi là một người chưa bao giờ thích đi học. Xưa kia tôi chán nản khi học ở trường, và giờ thấy mệt mỏi khi đưa con vào đó. Khi con gái vào lớp một, chúng tôi đã lúng túng và cố gắng động viên một cách vụng về không chỉ con mình, mà cả bản thân.

Khai giảng sắp đến. Và tôi tự hỏi, sẽ căn dặn gì một đứa trẻ nếu tôi đưa nó vào lớp một với kinh nghiệm nuôi dạy con hiện tại của tôi? Có lẽ, nếu Makarenko (*) sống lại và biết tôi nói gì, đầu tiên ổng sẽ dùng giẻ lau bảng đập vào má tôi một cách phấn khích, rồi sẽ chui vào góc lớp mà khóc nức nở bất lực nhưng cũng phấn khích không kém (**). Bởi vì, bản ghi nhớ của tôi cho học sinh lớp một sẽ giống như các lời dặn của bố già Don Corleone:

Continue reading