MOOC năm 2018 qua các con số (Class Central)

Bài tóm tắt của Class Central về tình hình MOOC năm 2018. Nguồn: Dhawal Shah, Class Central. Lược dịch: Minh Trương.

Bước sang năm thứ 7, phong trào MOOC (Massive Open Online Course – Khoá học Trực tuyến Mở Đại trà, gọi tắt là “khoá học”) đã vượt qua con số 100 triệu học viên, với tổng cộng số học viên là 101 triệu. Đồng thời ta cũng thấy có sự sụt giảm trong số lượng học viên mới đăng kí các khoá học. Continue reading

Mỗi bạn trẻ đều cần một mentor

Gần đây, nhân đại hội mentor của Funix, tôi chợt tưởng tượng mình quay về quá khứ 30 năm trước và gặp chính tôi hồi đó. Nếu người trẻ kia đồng ý, có lẽ tôi sẽ giúp được anh ta tránh được những thứ mà sau này anh ta không nên làm, và làm những thứ mà anh ta đã không làm để rồi tiếc nuối. Không phải là anh ta sẽ không mắc sai lầm, nhưng chắc sẽ có những lựa chọn tốt hơn. Có lẽ, tôi sẽ là mentor lý tưởng, đủ hiểu biết và tin cậy để giúp anh ta tự tìm con đường của mình. Continue reading

“Chất lượng và cố gắng”

Có vẻ như ngược lại với “bất cẩn” hiển nhiên là “cẩn thận”. Và cách tốt nhất để tránh những lỗi có thể tránh được là cố gắng hơn, cẩn thận hơn trong công việc.

Có nghĩa là, nếu các bác sỹ phẫu thuật cẩn thận hơn, thì sẽ ít sai sót hơn. Và rất nhiều sai lầm sẽ biến mất, chỉ cần mọi người cố gắng hơn.

Đúng thế. Trong chừng mực. Nhưng rốt cuộc, cái quan trọng không phải là sự cố gắng mà là hệ thống. Continue reading

Giới thiệu FUNiX Way

FUNiX Way (học kiểu FUNiX) là một cách tiếp cận mới đối với việc đào tạo trực tuyến, được áp dụng tại Đại học Trực tuyến FUNiX (FPT Education) và các đối tác. FUNiX Way sẽ giúp các tổ chức đào tạo có thể nhanh chóng triển khai khóa học với chất lượng tốt nhất, và đạt được tỷ lệ hoàn thành cao.

Người học muốn gì?

Ngày nay, người học cần và muốn có sự chủ động khi học đại học. “Cần” là vì nếu học theo cách học cũ, thi vào đại học rồi thụ động để dòng chảy cuốn đi, thì sẽ không có việc làm khi ra trường. Bằng cấp bây giờ không bảo đảm có việc, con số thạc sỹ, cử nhân thất nghiệp tăng hàng ngày. Người học cần biết mình muốn bơi đến đâu, và tìm dòng chảy phù hợp cho từng giai đoạn.

Muốn” là vì họ đã có lựa chọn. Ngày nay, người ta có thể nói, mua sắm, vui chơi và học hành “theo cách của mình”. Dịch vụ ngày càng nhiều và dần được cá thể hóa, cho thật phù hợp với nhu cầu và thói quen của từng người.

Để học, ta cần sách và thầy. Sách là tri thức, thầy là người tháo gỡ, chỉ đường khi bị mắc kẹt hay lạc lối. Một thời, tri thức vô cùng khan hiếm, người ta chuyền tay nhau từng cuốn sách. Ngày nay, với internet và các nội dung trên đó như wikipedia, youtube, MOOC, tri thức không còn khan hiếm nữa. Nếu muốn và biết cách khai thác, một người có thể tự học (miễn phí) gần như bất cứ thứ gì trên internet.

Internet cũng giúp ta tìm thầy dễ hơn. Cộng đồng nghề được kết nối trên mạng, khuyến khích mọi người chia sẻ với nhau những vấn đề chuyên môn. Kiên trì, cầu tiến và biết hỏi, ta có thể tìm được những người thầy phù hợp.

Mọi thứ đều sẵn sàng, vậy tại sao vẫn ít người có thể khai thác sức mạnh internet để học?

Người học cần gì để học được, hay đâu là hạn chế của MOOC?

Để tìm hiểu nhanh về thứ gì đó trên mạng thì rất dễ, nhưng để theo học được một môn nào đó thì không đơn giản.  Với các khóa MOOC, tỷ lệ hoàn thành đều rất thấp kể cả các khóa có thu phí. Khóa học được thiết kế rất tốt, giảng viên giỏi nhưng tỷ lệ bỏ học rất cao. Đó là vì khi việc học gặp khó (mà học những điều bổ ích luôn khó!), người ta cần sức ép của xã hội, của bạn bè và nhu cầu “về đích giống mọi người” để đi đến cùng.

Để hoàn thành khóa học trực tuyến, người học cần hai thứ: năng lực tự định hướng, duy trì động lực, và khả năng tự học online. Họ phải từ bỏ thói quen học thụ động, trôi theo dòng nước và xây dựng thói quen học chủ động, độc lập.

Malcolm Knowles nói “Most of us only know how to be taught, we haven’t learned how to learn”. Nếu có hai năng lực trên, người học sẽ có thể học bất cứ thứ gì họ muốn.

FUNiX Way là gì?

FUNiX Way là một giải pháp tổng thể để giúp người học tự học trên mạng, khai thác hiệu quả kho tri thức khổng lồ và cộng đồng nghề được kết nối. Tận dụng công nghệ và các mô hình quản lý động lực hiện đại, FUNiX Way giúp người học nhanh chóng xây dựng và duy trì khả năng tự học online. Khẩu quyết của FUNiX Way là “dạy không bằng dỗ, học không bằng hỏi”. “Dỗ” chính là cách thức giúp người học rèn thói quen tự học, và “hỏi” là biểu hiện của việc học chủ động. FUNiX Way giúp họ “học theo cách của mình”, bằng cách tạo ra môi trường học tập duy trì động lực học tập và rèn luyện kỹ năng tự học.

Mục đích của các chương trình học theo FUNiX Way là người học tự tin và thành thạo trong môi trường số, có thể kiếm tiền bằng nghề mà mình theo học hoặc sử dụng những gì đã học được để làm tốt hơn việc hiện tại, có động lực và khả năng nâng cao tay nghề, có thể làm thành viên dự án chuyên môn, và tham gia cộng đồng nghề như một thành viên có trách nhiệm.

FUNiX Way ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình xây dựng chương trình, tuyển sinh và triển khai đào tạo cho người học.

Xây dựng chương trình theo FUNiX Way

  • Các chương trình đào tạo dài hạn được chia thành các Chứng chỉ, sao cho người học có thể bắt đầu đi làm ngay khi kết thúc mỗi Chứng chỉ, và càng về sau càng làm được việc có thu nhập cao hơn
  • Mỗi Chứng chỉ gồm 4-5 Môn học, mỗi Môn có thể học trong 4-6 tuần. Không hạn chế tốc độ của người học
  • Học liệu từ các nguồn tốt nhất trên internet, của các tổ chức và tác giả uy tín nhất. Học liệu gốc tiếng Anh kèm phụ đề tiếng Việt giúp người học trau dồi kỹ năng ngoại ngữ.
  • Nội dung học được chia thành các đơn vị học liệu khoảng 5-10 phút, để người học có thể tranh thủ các khoảng thời gian trống để học, mọi lúc mọi nơi.

Tuyển sinh theo FUNiX Way

  • Người học phải thể hiện được sự sẵn sàng để học online, và ý thức được mức độ quan trọng của việc tự duy trì động lực và biết cách tự học online
  • Người học mới được giới thiệu, giao lưu với học viên cũ để tìm hiểu và đánh giá mức độ sẵn sàng của bản thân

Triển khai dạy và học theo FUNiX Way

  • Hỏi và giải đáp tức thì bởi các Mentor. Trong quá trình học bài giảng online, khi có khúc mắc, câu hỏi cần giải đáp, học viên sẽ được kết nốt ngay lập tức với chuyên gia trong lĩnh vực liên quan – FUNiX Mentor. Mentor là những người đang làm nghề nên có thể chia sẻ những tri thức cập nhật và đa dạng nhất cho người học. Với sự tham gia của cộng đồng mentor, các khóa học về công nghệ mới cũng dễ triển khai hơn, vì không mất thời gian chuẩn bị đội ngũ giảng viên cơ hữu.
  • Đánh giá trong quá trình và bằng việc đặt câu hỏi. Nếu thực sự học, bạn sẽ luôn có câu hỏi. Kỹ năng hỏi cũng rất quan trọng khi đi làm sau này, nhất là trong môi trường toàn cầu. Với các môn kỹ năng, học viên được đánh giá qua các bài tập thực hành (assignment/project) trong suốt quá trình, để kịp thời bổ sung những gì còn hổng.
  • Theo dõi và hỗ trợ trong suốt quá trình. Mỗi học viên có một cán bộ hỗ trợ học viên (Hannah) tiếp đón và đồng hành. Hannah sẽ “dỗ” để học viên duy trì được động lực, biết và vượt qua trở ngại khi học. Sử dụng mô hình FARS (dựa theo Situational Leadership), Hannah nắm được tâm lý và trở ngại của người học tại từng thời điểm và có hành động phù hợp. Hannah có thể giúp tăng tỷ lệ hoàn thành lên gấp nhiều lần.
  • Tham gia cộng đồng nghề. FUNiX là một cộng đồng nghề, học viên là người mới vào nghề và mentor là người đi trước. FUNiX Way chú trọng việc xây dựng và tăng cường giao lưu chéo trong cộng đồng, tạo ra môi trường tốt nhất để học viên học nghề và tìm việc. Ngay khi vào trường, học viên đã có quan hệ chuyên môn với nhà tuyển dụng tương lai của mình. Các buổi giao lưu offline giúp nâng cao chất lượng tương tác online của cộng đồng.
  • Hạ tầng thông tin và quản lý. FUNiX không có các tòa nhà hoành tráng. Giảng đường và hạ tầng quản lý của FUNiX là hệ thống CNTT bao gồm các ứng dụng cho học tập và quản lý học tập. Hệ thống học tập bảo đảm người học có thể học mọi lúc mọi nơi, hệ thống kết nối học viên – mentor, chấm bài và thi, luôn sẵn sàng. Hệ thống quản lý và dashboard cung cấp thông tin kịp thời và chính xác cho học viên, Hannah và các phòng ban.

Chất lượng và học phí theo FUNiX Way?

Bằng việc cá thể hóa quá trình học tập, chọn lọc những bài giảng đỉnh cao và kết nối online cũng như real life với các mentor, FUNiX Way tạo ra con đường tốt nhất cho người học, miễn là họ chủ động đi và hỏi đường. Tri thức họ nhận được là tri thức sinh động và thực tế từ những người đang làm nghề, cộng với bài giảng lý thuyết tốt nhất. FUNiX tin tưởng và luôn hướng đến chất lượng dạy online không thua kém, thậm chí tốt hơn so với giảng dạy truyền thống.

Các chương trình theo FUNiX Way đòi hỏi mức học phí phù hợp để trang trải các hoạt động nêu trên. Học viên không phải trả phí để theo học các môn không liên quan, và có thể học nhanh để tiết kiệm thời gian và giành học bổng cho khóa sau. Ngoài ra, học xong những Chứng chỉ đầu tiên, học viên đã có thể đi làm và kết hợp vừa làm vừa học để có tiền nộp học.

Bonus: trắc nghiệm miễn phí và k0 đòi hỏi khai báo bất kỳ thông tin cá nhân nào – Liệu bạn có sẵn sàng cho việc học online?

logo-funix

 

7 lời khuyên để giữ quan hệ với trẻ tuổi teen

Khi con bạn bé, nó phụ thuộc và bạn và bạn có thể gây ảnh hưởng với nó bằng cách kiểm soát. Nhưng khi nó lớn lên, nó sẽ không cảm thấy phụ thuộc vào bạn nữa, mà trở nên gắn bó nhiều hơn với đồng bọn (peer). Khi đó, công cụ kiểm soát mất dần tác dụng, thay vào đó, bạn phải xây dựng được mối quan hệ đủ tốt với nó. Suy cho cùng, nếu đứa trẻ không chia sẻ những suy nghĩ, những vấn đề hay khó khăn của nó với bạn, thậm chí giấu bạn, thì làm sao bạn có thể giúp nó được?

Bài dưới đây là lược dịch bài của tác giả Amber Black, về việc nên làm gì để duy trì một quan hệ tốt với trẻ.

Tôi đọc sách của các loại chuyên gia, từ tâm lý đến thần kinh học, chuyên gia trị liệu và giáo dục trẻ, các loại phụ huynh và nhà tư vấn đủ kiểu. Đọc sách dành cho phụ huynh, thầy giáo, cho bố mẹ trẻ cá biệt, v.v. Tôi vẫn đang đọc.

Và đây là điều mà tôi khám phá ra. Bất kể lĩnh vực chuyên môn, mục đích viết sách hay phương pháp tiếp cận vấn đề, tất cả đều quy về một điều: Kết nối (connection)

Kết nối với bọn teen không dễ. Nếu dễ thì người ta đã k0 viết lắm sách đến thế, và bạn đã chẳng phải đọc bài này. Nhưng việc nhận ra rằng tất cả mọi thứ đều quy về chuyện kết nối giúp đơn giản hóa suy nghĩ của bạn trong các cuộc cãi vã (à quên, tương tác) hàng ngày với trẻ.

Cái hay là, một khi chốt được điều đơn giản này – kết nối, bạn có thể gần như thất bại trong mọi thứ khác mà rốt cuộc vẫn chơi được với chúng và giúp chúng sống sót qua được những thứ thách của cuộc sống.

Có thể mối quan hệ giữa bạn và đứa trẻ đã đỉnh sẵn. Bạn có kết nối tuyệt với trẻ và tin rằng chúng cũng cảm thấy kết nối sâu sắc với bạn. Nếu đúng thế, bạn có thể ngừng đọc. Ở đây chẳng có gì mấy cho bạn. Nhưng nếu bạn cũng giống đa số chúng tôi, cho rằng mọi thứ với trẻ lẽ ra nên tốt đẹp hơn, và bạn muốn thể, thì hãy tiếp tục đọc.

1) Mọi hành vi là dấu hiệu bên ngoài của đau đớn bên trong
Cũng như những hành động sai lệch của chính ta, hành vi không như mong đợi của trẻ là dấu hiệu cho thấy gì đó không ổn trong chúng. Khi lũ trẻ của ta bị trầm uất, sợ hãi, lo lắng hay bối rối, chúng cần tình yêu vô điều kiện của ta hơn bao giờ hết. Lần tới, nếu đứa trẻ nổi loạn, hãy tự hỏi xem điều gì đã xảy ra với chúng? Gì đó ở trường? Một thay đổi mà chúng chưa được chuẩn bị để sẵn sàng đối phó? Đói? Hoóc môn? Thất vọng? Thay vì coi chúng là “hư” hay “sai”, hãy tự nhắc mình là chúng bị tổn thương hoặc bối rối. Hành vi của chúng là phản chiếu của những gì đang xảy ra bên trong. Vào thời điểm đó, hãy là đồng minh của trẻ, cùng chống trả thế giới bất trắc này.

2) Bọn trẻ sẽ làm tốt nếu có thể
Ai cũng muốn người khác nghĩ mình tài giỏi. Chúng ta không cảm thấy thích thú khi hành xử thô lỗ với người khác, và thực sự k0 muốn tỏ ra ngu ngốc trước mặt người khác. Bọn trẻ cũng vậy.

Nếu lũ trẻ có đủ kỹ năng, và có đủ nguồn lực nội tại để thi triển kỹ năng đó tại một thời điểm, chúng sẽ làm. Nếu bọn trẻ làm không tốt, thì nghĩa là chúng không có đủ kỹ năng hoặc chúng đã tới giới hạn có thể tự làm, hoặc chúng còn thiếu gì đó.

Nếu đứa trẻ của bạn đang làm hỏng trong một lĩnh vực cụ thể nào đó, có lẽ là vì chúng thiếu gì đó. Tin tốt là bạn có thể cung cấp cho chúng hoặc giúp chúng tìm. Nhưng chắc chắn k0 phải là chuyện chỉ cần muốn làm tốt hơn. Chúng thiếu gì đó, và giá chúng có thể tìm được thì chắc chúng đã làm rồi. Bọn trẻ luôn làm tốt nếu có thể.

3) Trẻ muốn kết nối
Trong cả danh sách này, đây là điều mà mãi tôi mới tin. Ở nhà tôi, chuyện cãi lộn là cơm bữa. Hôm qua tôi dành gần nguyên ngày để nghe một tràng xả giận từ con trai. Những lúc như thế, dường như thứ nó muốn ít nhất trên đời chính là tôi. Nhưng bởi lẽ các chuyên gia đều bảo rằng trẻ thực sự muốn kết nối, nên một lúc sau tôi đã điều chỉnh lại giả thiết của mình, và tôi đã sốc.

Đứa trẻ có thể đẩy bạn ra xa. Bạn có thể k0 biết làm thế nào để kết nối với chúng. Nếu vừa có chuyện xảy ra, có thể chúng chưa muốn xây dựng lại kết nối. Nhưng chúng muốn bạn và cần bạn.

Là một đứa teen, chúng tự đặt đủ loại câu hỏi về việc là bản thân nghĩa là gì? Chúng đang tìm hiểu xem mình là ai, độc lập với chuyện bạn là ai hay bạn muốn chúng trở thành ai (trong suy nghĩ của chúng). Chúng đang tìm kiếm sự độc lập, và điều này là quan trọng vì chúng sẽ sớm trở thành người lớn! Nhưng chúng cần bạn giúp. Và chúng rất muốn kết nối với bạn.

Những đứa trẻ muốn kết nối với chúng ta và sẽ mạnh dạn tiến lên nếu được tự do làm vậy. Điều này có vẻ khó tin, nhưng là sự thật.

4) Kỷ luật không phải là lời giải
Các giới hạn và hậu quả tự nhiên rất có ích, nhưng kỷ luật (trừng phạt nhằm hạn chế các hành vi k0 mong muốn) không phải là lời giải.

Tất cả chúng ta lớn lên trong các loại kỷ luật. Mọi hệ thống to nhỏ mà ta sống ở trong, bất kể gia đình, nhà trường hay chính phủ, đều cho rằng kỷ luật là cách hạn chế các hành vi k0 mong muốn. Nhưng có đúng vậy k0?

Liệu việc trừng phạt trẻ có giúp chúng hành xử tốt hơn, hay ra quyết định hiệu quả hơn, hay trở thành người tốt hơn? Các nghiên cứu trả lời là không. Hơn nữa, nhiều bằng chứng chỉ ra rằng có các cách tiếp cận khác đạt được các mục tiêu nêu trên.

Bài này không bàn về chủ đề giúp trẻ trưởng thành, mà về chuyện kết nối với trẻ (việc này rốt cuộc sẽ giúp trẻ trưởng thành tốt, nhưng đó là chuyện khác). Dù sao, nhiều biện pháp trừng phạt của chúng ta chỉ tổ chia rẽ chúng ta với lũ trẻ mà ta yêu quý.

Với các biện pháp kỷ luật trừng phạt, lũ trẻ cảm thấy bị hiểu nhầm, bị đối xử không công bằng, và cảm thấy chúng ta muốn kiểm soát chúng. Chúng sẽ phản ứng tươg xứng, và hố ngăn cách ngày càng to.

Hầu hết các cách tiếp cận khác khuyến khích kết nối thay vì phá vỡ nó. Nếu chúng ta có thể gần gũi trẻ hơn thay vì khiến chúng đóng chặt cửa, và đạt được các mục tiêu tốt hơn so với cách trừng phạt, thì hẳn là nên xem xét áp dụng.

5) Bọn trẻ không biết tại sao chúng làm thế
Cho dù là cái gì đi nữa, chúng k0 biết tại sao mình lại làm thế.

Nhưng ta cũng vậy mà, đúng k0? Đôi khi ta ngồi ngẫm nghĩ, tại sao lại làm hỏng cuộc đối thoại thứ Ba vừa rồi, và k0 hiểu nổi. Ta chỉ biết là đã nổi điên. Nhưng tại sao các bộ lọc của chúng ta lại không hoạt động vào thời điểm đó? Ta không biết. Và tất nhiên là bọn trẻ cũng k0 biết.

Điểm khác biệt giữa ta và lũ trẻ là chúng k0 có những kinh nghiệm, kỹ năng hay hệ thống thần kinh đã phát triển đầy đủ để đối phó với những tình huống của cuộc sống. Do đó, ta cần cho chúng được nghỉ giải lao.

Hỏi trẻ tại sao lại làm thế chỉ khiến chúng cảm thấy bản thân thật ngu ngốc, điều mà chúng đã rất hay cảm thấy. Đừng hỏi tại sao chúng cứ làm thế. Chúng đâu có biết.

6) Phát rồ ư? Bình thường mà!
Bọn trẻ k0 có gì sai khi thấy tức giận. Hay thất vọng, hay là lo lắng. Bạn cũng chẳng có gì sai khi cảm thấy thế, thậm chí là về con bạn hay tương lai của nó.

Nhưng phản ứng của chúng ta thường là “Mày làm sao thế!?”, trong khi câu “Bố/mẹ thấy là con đang thất vọng về điều đó. Thất vọng là bình thường mà” có lẽ hào phóng và ân cần hơn.

Quan trọng hơn, phương án một khiến chúng ta đối đầu nhau, còn phương án hai cho ta mở lòng chấp nhận sự không hoàn hảo. Khi đứa trẻ càm thấy không hoàn hảo là bình thường, chúng thấy được chấp nhận. Và sự chấp nhận là cách thức tốt để kết nối.

7) Chúng ta phải học cách chịu đựng sự bực bội của mình
Người lớn phải có tâm trí thanh thản trước khi bắt đầu chuyện trò cảm xúc với lũ trẻ. Điều này ai cũng biết.

Khi ta stress, bị tổn thương hoặc quá mệt mỏi, ta thường xả ra trong thời điểm cảm xúc với trẻ. Nhưng gần đây, bài của TS Shefali Tsabary đã khiến tôi tỉnh ra: “Đặc điểm của cảm xúc là chúng không cần phải có lý, không cần được chứng minh và không cần sự phê duyệt của chúng ta. Vì chúng ta quá hướng đến lý trí hóa, ta cứ muốn giải thích cảm xúc thay vì đơn giản là để cho bọn trẻ trải nghiệm chúng. Vấn đề là sự không thoải mái của chính chúng ta, mà ta phải học cách chịu đựng.”

Vấn đề là sự không thoải mái của chính chúng ta, mà ta phải học cách chịu đựng.” – lạy Chúa, chuẩn luôn!

Khi con tôi “giở trò”, tôi muốn nó thôi bởi vì tôi cảm thấy không thoải mái. Nó đâu có liên quan gì đến điều đó, thế nhưng điều này lại chính là nguyên nhân khiến tôi muốn kiểm soát tình huống bằng cách thảy ra luật lệ này nọ, chẳng giúp ích gì mà chỉ tổ khiến hai bên nổi khùng.

Ta phải học cách chịu đựng sự bực bội của chính mình.

Bổ, sướng, hay cả hai?

“- Mục đích của cuộc sống là gì hả bố?
– Hmm. Bố đã cống hiến cả đời mình cho các giác quan…”
(Thế giới kỳ diệu của Gumball)

Người ta bảo sống là để hạnh phúc. Vậy làm sao biết một người có cuộc sống hạnh phúc? Một anh nhà giàu suốt ngày đi chơi, sống cuộc đời sung sướng được ghen tỵ nhưng lại cảm thấy vô nghĩa. Một cô giáo tình nguyện lên vùng cao dạy trẻ được cảm phục vì làm việc nghĩa, nhưng cảm thấy đời mình khổ. Hạnh phúc có lẽ là cả hai đồng thời: sung sướng và có ý nghĩa.

Không phải lúc nào ta cũng có thể ngồi ngẫm cuộc đời mình xem có sung sướng và ý nghĩa hay không, để rồi có những điều chỉnh phù hợp. Tuy nhiên, vì cuộc sống của ta là chuỗi các hoạt động mỗi ngày, nên ta có thể xem xét hoạt động của mình hàng tuần, thậm chí hàng ngày, để biết những hoạt động nào đang đem lại gì.

Biểu đồ dưới đây của Marshall Goldsmith giúp ta phân nhóm và xác định các hoạt động của mình, bao gồm cả hoạt động cá nhân (personal) và nghề nghiệp (professional), tương ứng với cuộc sống và công việc. Bằng cách phân tích chúng, ta có thể có những điều chỉnh phù hợp và khả thi, để hạnh phúc hơn mỗi ngày.

Mojo

Sinh tồn (surviving). Các hoạt động thuộc nhóm này vừa không sướng vừa không bổ (có ý nghĩa). Đó là những thứ ta bắt buộc phải làm để sống qua ngày. Ví dụ phải làm thêm giờ liên lục mỗi ngày cho công việc tẻ nhạt và chỉ nhận được tiền công ít ỏi. Nếu hoạt động hàng ngày thuộc nhóm  này nhiều, thì ta có một cuộc sống khổ cực.

Phê (stimulating). Các hoạt động tạo cảm giác sung sướng ngắn hạn nhưng vô bổ về dài hạn. Ví dụ xem TV, lướt phây. Chén một bữa no say khi cần ăn kiêng thuộc nhóm này. Buôn dưa lê với đồng nghiệp có thể vui, nhưng không giúp gì cho sự nghiệp của ta. Cuộc sống có nhiều hoạt động “phê” sẽ rất dễ chịu nhưng không đi đến đâu cả.

Hy sinh (sacrificing). Các hoạt động có ý nghĩa dài hạn nhưng khiến ta khổ sở. Ví dụ bạn phải làm một công việc mà mình k0 thích, để có thu nhập nuôi gia đình. Hoặc bạn làm thêm giờ cho một dự án nào đó để thêm cơ hội thăng tiến (khác với ví dụ ở trên). Hoặc phải ăn theo chế độ rất chán để giữ sức khỏe. Cuộc sống chủ yếu gồm các hoạt động này sẽ giống người tử vì đạo – nhiều thành tựu nhưng ít niềm vui. Người ta cứ hay kêu gọi sự “hy sinh cao cả” ở các thầy cô giáo, cứ như nghề giáo là hẳn nhiên phải thế? Tại sao không phải là cả hai, như thiền sư Thích Nhất Hạnh nói: happy teachers change the world.

Thành đạt (succeeding). Đây là những hoạt động mà ta thích làm, đồng thời có ý nghĩa đối với ta. Tức là vừa sướng vừa bổ. Ví dụ một ông bố thích thú chơi đùa với con và thấy chúng học được nhiều điều. Hoặc một người được làm công việc yêu thích và kiếm được nhiều tiền. Cuộc sống nhiều hoạt động loại này là một cuộc sống mơ ước.

Những hoạt động không rõ ràng thuộc hẳn vào một trong bốn nhóm trên là những hoạt động “bình bình”, không bổ lắm và cũng chẳng sướng lắm.

Lưu ý rằng, việc đưa một hoạt động của bản thân vào nhóm nào là chủ quan của bạn và chỉ bạn mà thôi. Một công việc ở nhóm Sinh tồn với bạn trẻ có điều kiện ở thành phố có thể lại ở nhóm Thành đạt với một bạn trẻ khó khăn ở quê mới ra.

Bài này nằm trong chuỗi các bài giới thiệu các Biểu đồ góc phần tư (quadrant diagram) – một công cụ đơn giản và hiệu quả để biểu thị mối tương quan giữa hai đại lượng mà ta có thể dùng làm định hướng cho hành động của mình.

Bài liên quan:

David Wong: Có 5 thứ hại đời bạn mà bạn không hay biết

Screen time cho trẻ ở các lứa tuổi

Nên cho trẻ bao nhiêu Thời gian bên màn hình (Screen Time)? Nên hạn chế thời gian nhìn màn hình của trẻ như thế nào? Đó là mối quan tâm hàng đầu của bố mẹ trong thời đại CNTT, mà rất tiếc là vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Bài này giới thiệu các đề xuất của Avi Luxenburg, dựa trên lý thuyết về các giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của trẻ (lý thuyết Erikson).

Định nghĩa: thời gian bên màn hình (ST) là thời gian xem các phương tiện truyền thông (media) một cách thụ động (ví dụ TV, phim) và thời gian tương tác với media một cách chủ động (máy tính, trò chơi điện tử, thiết bị di động, v.v.).

Giai đoạn 1 (Lòng tin vs. Ngờ vực, dưới 1 tuổi)

Vì trẻ sơ sinh phụ thuộc 100% vào người chăm, sự phát triển của lòng tin (trust) dựa trên sự tin cậy và chất lượng của người chăm trẻ (bố mẹ hoặc bảo trợ).

Nếu trẻ phát triển thành công lòng tin, nó sẽ cảm thấy an toàn trong cuộc sống. Người chăm không nhất quán, vô cảm hoặc phũ phàng sẽ góp phần làm trẻ phát triển sự ngờ vực. Một khi trẻ không có lòng tin, chúng sẽ sợ hãi và tin rằng thế giới mâu thuẫn và bất định.

ST: không nên có.

Giai đoạn 2 (Tự chủ vs Hổ thẹn, 1-2 tuổi)

Trong giai đoạn này, trẻ cố gắng tách bản thân khỏi bố mẹ và thử nghiệm với chinh mình. Trẻ con không bị gò ép hay đòi hỏi quá sẽ cảm thấy an toàn và tự tin hơn. Trẻ con không có đủ tự do để thử nghiệm với sự tự quản, hay bị đòi hỏi nhiều quá, có khả năng cảm thấy mình không xứng đáng và nghi ngờ bản thân.

ST: Lời khuyên phổ biến là không. Một số cha mẹ cho rằng ST có ích như một phần rất nhỏ trong quá trình học của trẻ. Ví dụ, bố mẹ có thể dạy con nhìn và cảm giác được trứng, đọc truyện có trứng như Humpty Dumpty, và cho trẻ xem video 90 giây về Humply Dumpty. Trong trường hợp này, ST không được sử dụng tách rời, mà là phần nhỏ của một trải nghiệm học tập lớn hơn.

Giai đoạn 3 (Chủ động vs Mặc cảm về khả năng, 3-6 tuổi)

Ở giai đoạn này, trẻ con tỏ ra vô cùng tò mò với thế giới, và “bắt đầu khẳng định quyền lực và sự kiểm soát của chúng đối với môi trường xung quanh thông qua các trò chơi và tương tác xã hội”. Ở tuổi này, trẻ nhỏ thử các loại hành động và nhìn thấy quan hệ nhân quả của các hành động. “Mình đã vẽ tặng mẹ và mẹ thích, mình sẽ làm nữa”. “Mình đã vẽ cho mẹ nhưng mẹ không thích vì mình bôi bẩn hết cả quần, mình sẽ không làm nữa”. Trẻ nhỏ ở giai đoạn này có mặc cảm tội lỗi khi làm gì đó và bị phạt. Nghịch màu và bôi bẩn ra đi văng là một hoạt động trung tính cho đến khi ai đó có phản ứng tiêu cực (và có thể là trừng phạt). Trẻ con vượt qua giai đoạn này một cách thành công sẽ tự tin trong việc hành động, ngược lại là cảm giác có lỗi và tự nghi ngờ, dẫn đến ngại hành động.

ST: Ở giai đoạn này, trẻ nhỏ cần trải nghiệm tối đa với thế giới vật lý, nơi có rất ít ranh giới cho trước đối với hành động của chúng. Không có tỷ lệ, hình thù hay cấu trúc cho trước. Ngay cả những tương tác màn hình phức tạp nhất cũng có hạn chế về hành động và kết quả.

Đây là một ví dụ. Khả năng có thể gõ (type) các chữ cái đã gỡ bỏ rào cản cho nhiều đứa trẻ vì việc viết trở nên dễ dàng hơn (rất tuyệt cho một số người có khuyết tật nào đó). Khi bạn gõ “h”, đó là “h”, và mặc dù bạn có thể chọn nhiều phông chữ khác nhau, thì đó vẫn là những thứ đã được cố định trước. Ở giai đoạn này, có lẽ không có bất kỳ giới hạn nào thì vẫn hơn. Khi viết chữ “h”, một đứa trẻ có thể chọn sáp, bút chì, bút lông hay thậm chí là bằng tay. Nó cũng có thể chọn vô số thứ để viết lên, từ giấy đến bìa hoặc bức tường đẹp đẽ mà mẹ vừa thuê sơn kia. Nó có thể nhấn mạnh hoặc nhẹ, thay đổi góc, v.v.

Điểm mấu chốt là viết chữ “h” thì phong phú và thú vị hơn nhiều so với gõ. Sẽ đến lúc ra muốn tập trung vào nội dung bài viết và khi đó gõ thì hiệu quả hơn, nhưng ở giai đoạn này, tốt hơn là thử nghiệm với tất cả các khả năng thử nghiệm vật lý.

Nếu theo hướng này, ta cần hạn chế nghiêm ngặt ST cho trẻ. Đa số sách cho rằng 30-45 phút mỗi ngày là tối đa. Và cũng như giai đoạn trước, sẽ tốt hơn cho trẻ nếu ST được thực hiện trong ngữ cảnh học tập rộng hơn chứ không chỉ đơn giản là tự thân.

Giai đoạn 4 (Tài năng vs Tự ti, 5-12 tuổi)

“Khi trẻ lớn lên, chúng dần cảm nhận được giá trị của bản thân trong những việc mình làm. Hoàn thành được các việc, nhất là các việc do chúng tự chọn và làm – giúp trẻ thấy tự hào về việc mình làm và mình là ai”

Ở giai đoạn này, trẻ con phát triển cảm giác năng lực qua các thành tựu. Chúng ta muốn trẻ cảm thấy được việc, có năng lực và tự tin vào kỹ năng của bản thân. Các tương tác xã hội cho chúng cảm giác tự hào ban đầu về thành tựu và khả năng của mình.

Một khi cảm giác thành tựu và năng lực là thứ mà trẻ tìm kiếm ở giai đoạn này, thì trải nghiệm phiêu (flow – dòng chảy) là thứ mà chúng rất nên có. Khái niệm phiêu được GS Mihály Csíkszentmihályi đưa ra khi nghiên cứu về việc cái gì khiến chúng ta sung sướng (happy). Ông phát hiện ra rằng chúng ta sung sướng nhất khi phiêu.

Đơn giản nhất, phiêu là khi chúng ta tập trung tối đa đến mức quên thời gian, cảm thấy mình kiểm soát được hoạt động, cảm thấy biết được điều gì sẽ xảy ra và cần làm gì tiếp. Trải nghiệm phiêu là hoạt động học tập và rèn luyện năng lực tốt nhất. Phiêu khiến chúng ta hài lòng và cảm thấy có thể làm tiếp mãi. Không có gì khiến ta cảm thấy thành tựu và năng lực hơn là trải nghiệm phiêu. Xem thêm videos on Flow (and Multitasking).

Flow

Mô hình dao động trải nghiệm (Experience Fluctuation Model) theo Csíkszentmihályi. Ví dụ về việc chơi game: khi người chơi có năng lực trung bình thì game đưa ra những thách thức khó hơn, và người chơi ở trạng thái Khuấy động. Khi thành thục, người chơi chuyển sang Dòng chảy (phiêu), rồi chuyển xuống Kiểm soát là khi kỹ năng đã vượt lên thách thức. Thế rồi game đưa ra thách thức khó hơn và người chơi lại về trạng thái Khuấy động, cứ thế xoay vòng đến hết. Tham khảo thêm bài tiếng Việt về mô hình này.

ST:

Ở giai đoạn này, ST rất hấp dẫn với trẻ. Đứa trẻ không hứng thú với viết văn hay làm toán sẽ dễ tìm đến trải nghiệm phiêu thông qua các hoạt động liên quan thiết bị số. Trò chơi điện tử (game) rất dễ tạo ra trải nghiệm phiêu, nên được gọi là “máy tạo phiêu” (flow machine)

Game là máy tạo phiêu

Lúc đầu, người chơi sẽ đương đầu với những thách thức dễ, không đòi hỏi nhiều kỹ năng. Sau đó thách thức tăng dần với kỹ năng, tạo nên một tình huống hoàn hảo để phiêu xuất hiện. Các bước rất rõ ràng khi người chơi tiến bộ dần, và phản hồi luôn là tức thì. Thực tế là rất nhiều game chứa các thành phần của trải nghiệm phiêu. Liệu bạn có còn thắc mắc tại sao chúng lại phổ biến đến thế? Là vì chúng trao cơ hội trải nghiệm phiêu dễ hơn nhiều so với học viết, vẽ, hay nhảy.

Multi-tasking

Càng ngày, chúng ta càng thấy ở trẻ khả năng đa nhiệm (multi-tasking). Rất dễ thấy bọn trẻ vừa xem video vừa làm bài tập về nhà và đồng thời lướt facebook.

Nhưng, nhiều nghiên cứu cho thấy không có cái gọi là đa nhiệm thực sự, tức là khả năng tập trung vào nhiều việc một lúc. Thuật ngữ chính xác hơn là task-juggling (tung hứng việc), tức là trẻ sẽ chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác và ngược lại. Theo Csíkszentmihályi, một người có thể xử lý được 110 bit / giây. Nghĩa là gì? Ví dụ khi bạn nghe và theo dõi tôi, bạn sẽ xử lý nội dung mà tôi nói, xử lý các mối liên kết giữa nội dung đó với tri thức của bạn, ngữ điệu cho bạn biết thêm thông tin về tôi, và cử chỉ của tôi cũng vậy. Tất cả các thông tin đầu vào đó tương tác với hình dung của bạn, với kinh nghiệm của bạn. Nếu bạn tập trung hết cỡ vào nghe và xem, bạn sẽ xử lý khoảng 60 bit thông tin mỗi giây. Đó là lý do tại sao bạn không thể thực sự nghe hai người cùng lúc, vì ngưỡng tối đa là 110 bit.

Khi trẻ con không có đủ thông tin để xử lý, bọn trẻ sẽ tìm cách “làm đầy” bằng cách thêm vào. Đôi khi bạn thấy mình vừa xem phim vừa làm gì đó. Các hoạt động đòi hỏi tập trung cao, ví dụ viết, sẽ không cho phép đa nhiệm (task-juggling). Ví dụ bạn k0 thể viết và trả lời email, hay thậm chí nghe nhạc và cảm nhận được lời. Đa nhiệm không cung cấp đủ chỗ cho trải nghiệm dòng chảy, vì dòng chảy đòi hỏi 100% công suất xử lý thông tin của ta.

Như đã nói, thế giới công nghệ số rất hấp dẫn người trẻ bởi ở đó họ có thể trải nghiệm phiêu dễ hơn và ít phải tập luyện hơn, so với chơi violin chẳng hạn. Sự hấp dẫn này không hẳn là tệ.

Với việc có thể sáng tạo và làm việc trên máy tính và mạng, thời gian sử dụng máy tính (ST) có thể trở thành một công cụ tiềm năng để phát triển cảm nhận năng lực và thành tựu. Chỉ khi ST được sử dụng cho những thứ không sinh lợi (non-productive – vô bổ), ví dụ vào mạng xã hội hàng giờ, hay chơi game, hay lướt web một cách lơ đãng, thì ST mới không có tác dụng cho mục tiêu quan trọng nhất ở giai đoạn này – phát triển tài năng của trẻ.

Xu hướng đa nhiệm cũng như sử dụng ST cho những việc “vô bổ” khiến bố mẹ muốn hạn chế ST của con mình. Đây là vấn đề khó, bởi ở lứa tuổi này bọn trẻ đang khám phá, giải trí và phát triển các mối quan hệ trực tuyến. Chúng muốn nhiều ST hơn. Có lẽ nên giới thiệu cho chúng về phiêu, cái gì khiến chúng vào trạng thái đó và ra. Cũng nên đàm phán với trẻ về ST có ích (productive) và “vô bổ” (non-productive). Có lẽ cũng là lúc xác định khi nào thì được đa nhiệm và khi nào không.

Cũng như ở giai đoạn trước, trẻ rất cần tương tác và hoạt động trong thế giới vật lý. Thế giới trong màn hình không linh hoạt và năng động như thế giới thật, vì các khả năng bị hạn chế bởi các thông số khi lập trình, đóng gói sẵn, và không có sự lộn xộn hay ho như ở thế giới thật. Nhưng mặt khác, thế giới số lại là chỗ tuyệt vời để khám phá những thứ ta không thể trải nghiệm trong thế giới thật, tỷ như giả lập xây dựng một thành phố và xem nó phát triển ra sao sau 1000 năm, hay vẽ tranh mà không tốn phí.

Melton và Shankle khuyến cáo ST hàng ngày cho trẻ ở khúc đầu của giai đoạn này là 45 phút, và khúc sau là 2 giờ. Khi quyết định ST phù hợp, bố mẹ cần cân nhắc theo nhu cầu cá nhân của con trong bối cảnh chúng muốn phát triển năng lực và thành tựu.

Giai đoạn 5 (Cái tôi và Nhầm lẫn về vai trò, 12-19 tuổi)

(chưa dịch)

Bài liên quan:

Ảnh hưởng của đồng bọn (với trẻ)

Tư duy hội tụ và tư duy phân nhánh

Các giai đoạn phát triển Tâm lý xã hội của một người (Erikson)

Gippenreyter: 10 điều Không trong nuôi dưỡng trẻ em

Nguồn khác tham khảo:

ConnectSafety Parents’ Guide to Facebook (pdf tiếng Anh)