Category Archives: Tâm lý học

Các bài liên quan đến tâm lý học, hỗ trợ tâm lý

Giới thiệu các cơ chế phòng vệ tâm lý

Giống như tất cả các cơ thể sống, con người đã tiến hóa nhiều cơ chế bảo vệ để chống lại các mối đe dọa đối với sự tồn tại và toàn vẹn thể chất của chúng ta. Ví dụ: hệ thống miễn dịch, cơ chế đông máu, cơ chế quyết định “chơi hay chạy” được nhúng trong hệ thần kinh. Do đó, trực giác mách bảo rằng, con người đã tiến hóa các cơ chế phòng thủ tương tự để bảo vệ và thúc đẩy tính toàn vẹn của tâm trí chúng ta, ví dụ như ý thức về bản thân, căn tính và lòng tự trọng.

Continue reading

Chấn thương thời thơ ấu

Alice Miller, Ph.D.

Từ khi còn niên thiếu, tôi đã tự hỏi tại sao nhiều người lại lấy làm vui khi hạ nhục người khác. Rõ ràng là có nhiều người nhạy cảm với nỗi đau của người khác, chứng tỏ sự thôi thúc có tính chất hủy hoại làm tổn thương người khác không phải là một khía cạnh phổ biến của bản chất con người. Vậy tại sao một số người lại có xu hướng giải quyết vấn đề của mình bằng bạo lực, trong khi những người khác thì không?

Continue reading

Câu chuyện ngầm định văn hóa: các chiến binh Maasai và sư tử

Khi thấu hiểu tâm lý con người và các ngầm định văn hóa của một cộng đồng, người ta có thể tìm ra những lời giải hiệu quả và bền vững đáng kinh ngạc.

Continue reading

Phân biệt: repression và suppression

RepressionSuppression là hai cơ chế phòng vệ tâm lý với tên gọi dễ gây nhầm lẫn, nhất là khi chưa có một cách dịch nhất quán sang tiếng Việt. Repression được dịch là đè nén, ức chế, dồn nén, kìm nén; còn suppression được dịch là đàn áp, xóa bỏ, kiềm chế, v.v. Tiếng Trung đều được dịch là 抑制 (ức chế). Vậy chúng khác gì nhau?

Điểm khác biệt giữa R và S là, R thuộc về vô thức còn S là có ý thức. R là việc ngăn chặn những suy nghĩ hoặc xung động không mong muốn một cách vô thức, còn S là hoàn toàn có ý thức, tự nguyện. Ví dụ, khi ta cố tình quên hoặc không nghĩ về những suy nghĩ đau đớn thì gọi là S.

Continue reading

Portia Nelson. Tự truyện trong năm chương ngắn

Portia Nelson. Autobiography In Five Short Chapters, 1977.

1
I walk down the street.
There is a deep hole in the sidewalk
I fall in.
I am lost … I am helpless.
It isn’t my fault.
It takes me forever to find a way out.

2
I walk down the same street.
There is a deep hole in the sidewalk.
I pretend I don’t see it.
I fall in again.
I can’t believe I am in the same place
but, it isn’t my fault.
It still takes a long time to get out.

3
I walk down the same street.
There is a deep hole in the sidewalk.
I see it is there.
I still fall in … it’s a habit.
my eyes are open
I know where I am.
It is my fault.
I get out immediately.

4
I walk down the same street.
There is a deep hole in the sidewalk.
I walk around it.

5
I walk down another street.

1
Tôi đi dọc con phố
Có một cái hố sâu trên lối đi
Tôi ngã vô
Tôi lạc rồi…Tôi bất lực
Nào phải lỗi của tôi
Sẽ mất cả đời để tìm lối thoát

2
Tôi vẫn đi dọc con phố ấy
Có một cái hố sâu trên lối đi
Tôi làm ra vẻ không nhìn thấy
Tôi lại ngã vô
Không thể tin là tôi lại rơi vào đó
Nhưng chẳng phải lỗi của tôi
Sẽ mất rất lâu để tìm lối thoát

3
Tôi vẫn đi dọc con phố ấy
Có một cái hố sâu trên lối đi
Tôi nhìn thấy nó
Tôi vẫn ngã vào…vì thói quen
Nhưng mắt tôi mở
Tôi biết mình ở đâu
Lỗi của tôi
Tôi trèo ra ngay lập tức

4
Tôi vẫn đi dọc con phố ấy
Có một cái hố sâu trên lối đi
Tôi đi vòng qua nó

5
Tôi đi dọc một con phố khác.

Neo sự nghiệp (career anchor)

Giới thiệu. Cả nhân viên lẫn công ty đều tìm cách phát huy tối đa năng lực và đóng góp của nhân viên, thông qua một lộ trình thăng tiến sự nghiệp. Các bước đi tiếp theo trên lộ trình đó thường gắn với thành tích, nguyện vọng của nhân viên và nhu cầu của tổ chức. Nếu hai bên biết được loại sự nghiệp nào mà nhân viên ưa thích, thì việc thăng tiến sẽ trở nên hiệu quả hơn, không xảy ra “nhầm chỗ”. Ví dụ có nhân viên thích quản lý chung, có người thì lại thích làm chuyên môn, mà đôi khi họ cũng không thực sự ý thức được.

Edgar Schein đã xác định 8 loại như vậy, và đặt tên là neo sự nghiệp (career anchor). Nếu áp dụng khái niệm này, công ty và nhân viên sẽ tìm được con đường hiệu quả nhất và nhanh nhất.

Continue reading

Giao kèo Tâm lý (Psychological Contract)

Trong quan hệ giữa công ty và người lao động, những gì được quy định trong Hợp đồng lao động và Nội quy là quá khái quát. Thực tế là hai bên duy trì những ngầm định và kỳ vọng về nhau dưới dạng một giao kèo bất thành văn, được đặt tên là psychological contract. Có 5 giai đoạn hình thành nên giao kèo, từ lúc người lao động bắt đầu quan tâm (và hình thành kỳ vọng!) về công ty. Có 8 giai đoạn mà người lao động trải qua, cứ mỗi lần chuyển là một lần thay đổi giao kèo (ví dụ nếu tôi được bổ nhiệm thì tôi sẽ có kỳ vọng mới). Nắm được và sử dụng các yếu tố này có thể giúp tăng năng suất và động lực của nhân viên. Ví dụ sau mỗi lần đánh giá kết quả công việc lại xếp nhân viên vào 1 trong 8 nhóm để có hành động phù hợp.

Continue reading

Ứng dụng các lý thuyết về phát triển nhân cách

Bài tổng hợp này nhằm mục đích xác định xem bố mẹ có thể vận dụng được gì trong các lý thuyết phát triển nhân cách này để dạy con, sao cho cách dạy phù hợp với sự phát triển của trẻ. Cuối bài có các chỉ dẫn đến các bài viết chi tiết hơn.

Nhân cách (personality, tính cách) là thứ mà mọi người hay nghĩ đến. Khi gặp những người mới, cho dù ở công sở, trường học hay các sự kiện xã hội, ta thường để ý ngay vào tính cách của họ: tốt bụng, tử tế, hướng ngoại hay nhút nhát.

Continue reading

Sự phát triển của vị thành niên

Vị thành niên (adolescence) là giai đoạn bắt đầu với tuổi dậy thì và kết thúc khi chuyển sang tuổi trưởng thành (khoảng 10–20 tuổi). Những thay đổi về thể chất liên quan đến tuổi dậy thì được kích hoạt bởi các hormone. Những thay đổi về nhận thức bao gồm: cải thiện khả năng tư duy phức tạp và trừu tượng, cũng như tốc độ phát triển khác nhau của các phần khác nhau của não bộ. Điều này làm tăng khả năng vị thành niên có những hành vi mạo hiểm, bởi vì lòng mong muốn tìm kiếm cảm giác mạnh và sự tán thưởng lại phát triển trước khả năng kiểm soát nhận thức.

Continue reading

Phân biệt: thành niên, thanh niên, vị thành niên

Người ta chia các nhóm tuổi từ nhiều góc độ khác nhau: góc độ pháp lý, văn hóa xã hội, tâm lý, v.v. Các cách chia này có sự chồng lấn và không phải lúc nào cũng có ranh giới rõ ràng. Dưới đây là một số nội dung liên quan (sẽ được cập nhật), để các bố mẹ biết để phân biệt.

Theo luật pháp Việt Nam

  • Trẻ em: dưới 16 tuổi (theo Luật Trẻ em)
  • Thanh niên: từ đủ 16 đến 30 tuổi (theo Luật Thanh niên)
  • Thành niên: từ đủ 18 tuổi trở lên (theo Luật Dân sự). Người thành niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Các khái niệm văn hóa xã hội

  • Vị thành niên (còn gọi là thanh thiếu niên, adolescent, teenage): độ tuổi 10-19 tuổi (WHO quy định). Khác với Thành niên là khái niệm chặt chẽ theo luật Dân sự, khái niệm Vị thành niên không chặt chẽ.
  • Thiếu niên: từ 9/10 tuổi đến dưới 16
  • Nhi đồng: từ 5/6 tuổi đến 9/10
  • Thiếu nhi là thiếu niên + nhi đồng. Khái niệm Thiếu nhi nằm trong khái niệm Trẻ em trong Luật Trẻ em (dưới 16)

Các giai đoạn

Sơ sinh (infant) – Tuổi thơ (childhood) – Thanh thiếu niên, tuổi trẻ (adolescence, youth) – Người lớn (adulthood)