Category Archives: Tâm lý học

Các bài liên quan đến tâm lý học, hỗ trợ tâm lý

Những phân ngành chính của Tâm lý học

Các nhà tâm lý học nghiên cứu tâm trí và hành vi con người như thế nào? Tâm lý học là một lĩnh vực rất lớn, và khó mà diễn tả được độ rộng và sâu của nó. Vì vậy, nhiều phân ngành (branch) chuyên biệt đã được hình thành, nhằm giải quyết các chủ đề cụ thể trong lĩnh vực nghiên cứu về tâm trí, não bộ và hành vi.

Continue reading

Các hướng nghiên cứu của tâm lý học hiện đại

Có nhiều cách tư duy khác nhau về hành vi của con người. Các nhà tâm lý học sử dụng nhiều góc độ tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu cách mọi người suy nghĩ, cảm nhận và hành xử.

Một số nhà nghiên cứu tập trung vào một trường phái tư tưởng tư duy cụ thể, chẳng hạn như từ góc độ sinh học, trong khi những nhà nghiên cứu khác có cách tiếp cận đa chiều (eclectic – chiết trung) hơn, kết hợp nhiều quan điểm khác nhau. Không có một góc độ nào là “tốt hơn”, đơn giản là mỗi góc độ nghiên cứu nhấn mạnh vào những khía cạnh khác nhau của hành vi của con người.

Continue reading

Phân biệt: ý thức, tiền ý thức, tiềm thức và vô thức

Bài này giới thiệu và phân biệt các khái niệm trên, nằm trong mô hình topo về tâm trí của Freud.

Các khái niệm này đều đã tồn tại trước Freud, nhưng Freud là người tổng hợp và diễn giải chúng một cách hệ thống hơn. Trong cuốn Giải mã giấc mơ viết năm 1900, Freud trình bày mô hình topo của tâm trí (topographic model of the mind, ý nói bản đồ, địa hình của tâm trí), theo đó tâm trí có thể được chia làm 3 khu vực: ý thức (conscious), tiền ý thức (preconscious) và vô thức (vô ý thức – unconscious). Đây là một trong ba mô hình quan trọng trong lý thuyết phân tích tâm lý học (phân tâm học) của Freud, hai cái kia là mô hình phát triển tâm lý tính dục (psychosexual stages) và mô hình cấu trúc tâm lý (structural, nói về id, ego và superego).

Continue reading

Tâm lý học bình dân và Tâm lý học pop

Bạn có thể từng nghe đến hai khái niệm: Popular Psychology (TLH bình dân hoặc đại chúng hoặc thường thức) và Pop Psychology (TLH pop). Thường thì hai khái niệm này tương đương nhau, nhưng trong một số trường hợp, có sự phân biệt TLH bình dân và TLH pop như sau:

Continue reading

Phim citizen Kane: câu chuyện chấn thương tâm lý trẻ thơ

Bộ phim “Công dân Kane” kể về một người cả đời đi tìm sự yêu thương, vì đã mất nó lúc còn ấu thơ. Vì có nhiều tiền, nên anh đã đi tìm yêu thương bằng cách bắt mọi người yêu quý mình mà bản thân anh không hề ý thức được. Cuối cùng, anh chết trong cơ độc với hoài niệm về những ngày hạnh phúc ngắn ngủi thời thơ ấu, đã phải kết thúc nhanh chóng khi bố mẹ giao anh cho người khác nuôi.

Continue reading

Các mục tiêu chính của Tâm lý học

Tâm lý học là nghiên cứu khoa học về tâm trí (mind) và hành vi (behavior). Vậy tâm lý học cụ thể làm gì, phục vụ mục đích (purpose) gì và có những mục tiêu (goal) gì?

Hãy cùng xem các mục tiêu chính của tâm lý học, những gì các nhà tâm lý học cố gắng đạt được, và cách tâm lý học được sử dụng để giải quyết các vấn đề trong thế giới thực.

Continue reading

Phân biệt: giá trị, đạo đức và luân lý

Giá trị (values, 价值) là những gì một người cho là quan trọng, là phải hành động vì nó. Giá trị quyết định hành vi của một người. Giá trị luôn gắn với một cá nhân cụ thể.

Ví dụ một người quý trọng tình bạn sẽ hy sinh vì bạn. Một người quý trọng sức khỏe sẽ dành thời gian luyện tập thể dục.

Đạo đức (morals, 道德, còn gọi là giá trị đạo đức hay chuẩn mực đạo đức) là những giá trị chung mà cộng đồng người chia sẻ. Đạo đức luôn gắn với một cộng đồng người. Đạo đức giúp trả lời câu hỏi thế nào là tốt / xấu.

Ví dụ không trộm cắp. Phải giúp đỡ trẻ em, người yếu.

Các giá trị đạo đức có thể tiềm ẩn mâu thuẫn nội tại, dẫn đến hai người của cùng một hệ chuẩn mực đạo đức có thể hành động khác nhau do các giá trị của riêng mình. Ví dụ, cùng là hệ đạo đức trung thực và phấn đấu, nhưng người trân trọng giá trị “chân thành” sẽ không gian lận, người trân trọng giá trị “thành công” sẽ có thể gian lận.

Luân lý (ethics, 伦理) quyết định việc một người làm là đúng / sai. Luân lý quy định về hành vi (đúng/ sai), trong khi đạo đức quy định về ý định (tốt/xấu). Luân lý là nỗ lực thể chế hóa các hành vi dựa trên các giá trị đạo đức. Do đó, vi phạm luân lý là phạm luật và bị trừng phạt theo quy định, còn vi phạm đạo đức thì cảm thấy tội lỗi và xấu hổ, bị chê trách.

Vì lẽ đó mà các ngành nghề có Code of Ethics chứ không phải Code of Morals (business ethics, programming ethics, v.v.) Code of Ethics liệt kê các hành vi vi phạm luân lý liên quan đến ngành nghề đó. Đến mức một doanh nghiệp thì có Code of Conduct (Bộ quy tắc ứng xử), chi tiết hóa cho mức tổ chức.

Đạo đức và luân lý có những mâu thuẫn với nhau. Ví dụ em trai là an ninh đã tiếp tay để anh mình là tội phạm trốn chạy, thì người em đã vi phạm luân lý (cũng là phạm luật) nhưng về mặt đạo đức thì tranh cãi (tình anh em vs trật tự xã hội). Còn về mặt giá trị, thì người em đã đặt giá trị “anh em ruột” lên trên hết.

Trong tiếng Việt, từ “luân lý” ít được dùng và người ta dùng từ “đạo đức” cho cả hai nghĩa, dẫn đến một số bất tiện trong thấu hiểu. Ví dụ chính quyền có khái niệm “đạo đức công vụ”, thật ra nên là “luân lý công vụ” vì là ethics, nhưng nghe không quen tai. Thật ra, nếu nền tảng đạo đức là yếu, thì các luân lý này dễ bị trở thành hình thức, đối phó, và có vẻ đang như vậy thật.

Đọc thêm về đạo đức: nhà tâm lý học Lawrence Kolhberg đưa ra lý thuyết về các giai đoạn phát triển Đạo đức ở một người. Bản giới thiệu lý thuyết này bằng tiếng Việt.

Hai loại trí thông minh: thể lỏng và kết tinh (fluid vs crystallized)

Khi nghĩ về trí thông minh, bạn có thể nghĩ đến việc có nhiều kiến ​​thức về các lĩnh vực khác nhau. Nhưng bạn cũng có thể nghĩ về khả năng tư duy nhanh và suy luận. Những yếu tố như vậy đại diện cho cái mà các nhà tâm lý học gọi là trí thông minh thể lỏng (linh hoạt) và trí thông minh kết tinh.

Continue reading