Author Archives: Phan Phuong Dat

“Các anh ngu bỏ mẹ” và Văn hóa FPT

“Các anh ngu bỏ mẹ” là truyền thuyết hay được nhắc đến nhất của FPT. Từ câu chuyện này, nhiều kết luận về văn hóa doanh nghiệp FPT được đưa ra, kèm theo các khuyến cáo dai dẳng. Đến mức, CEO KhoaNV có lần phải lên báo giải thích “Nói FPT có văn hóa chửi sếp là không đúng đâu”.

Continue reading

“Văn hóa tin tưởng” vs “Văn hóa quyền lực”

Đây là trích đoạn memo của Dennis Burke, VP Personnel của công ty DEC năm 1975, khi DEC đang phát triển và mở rộng nhanh chóng. Thành lập năm 1957, từ 1960 đến 1970 công ty đã tăng từ 1.3M đô với 117 nhân viên lên 135M đô với 5800 nhân viên. Công ty tiếp tục tăng trưởng trong thập kỷ 80, nhưng sang đầu thập kỷ 90 bắt đầu thua lỗ, mặc dù đạt doanh thu kỷ lục 14B đô năm 1993, với số nhân viên lúc cao nhất là hơn 120K. Do thua lỗ liên tiếp, đến 1995 Ken Olsen, founder và là người lãnh đạo từ ngày đầu, đã bị thay. Năm 1998 công ty được Compaq mua lại. Theo Edgar Schein, những thay đổi văn hóa kiểu này chắc chắn sẽ xảy đến khi công ty phát triển và tăng quy mô. Nếu không được để ý đến và tìm ra những cách thức mới phù hợp (thay đổi văn hóa), công ty sẽ gặp khó khăn.

Continue reading

Thoát ra từ Vũ Hán – covid có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo?

“Covid có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo?”. Câu trả lời cho câu hỏi này có ý nghĩa gì với thế giới? Điều tra của Yulia Latynina đăng trên Novaya Gazeta (tiếng Nga) ngày 5/6/2021. Dịch toàn văn. Ảnh và link của bài gốc.

Continue reading

Phân biệt: thành niên, thanh niên, vị thành niên

Người ta chia các nhóm tuổi từ nhiều góc độ khác nhau: góc độ pháp lý, văn hóa xã hội, tâm lý, v.v. Các cách chia này có sự chồng lấn và không phải lúc nào cũng có ranh giới rõ ràng. Dưới đây là một số nội dung liên quan (sẽ được cập nhật), để các bố mẹ biết để phân biệt.

Theo luật pháp Việt Nam

  • Trẻ em: dưới 16 tuổi (theo Luật Trẻ em)
  • Thanh niên: từ đủ 16 đến 30 tuổi (theo Luật Thanh niên)
  • Thành niên: từ đủ 18 tuổi trở lên (theo Luật Dân sự). Người thành niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Các khái niệm văn hóa xã hội

  • Vị thành niên (còn gọi là thanh thiếu niên, adolescent, teenage): độ tuổi 10-19 tuổi (WHO quy định). Khác với Thành niên là khái niệm chặt chẽ theo luật Dân sự, khái niệm Vị thành niên không chặt chẽ.
  • Thiếu niên: từ 9/10 tuổi đến dưới 16
  • Nhi đồng: từ 5/6 tuổi đến 9/10
  • Thiếu nhi là thiếu niên + nhi đồng. Khái niệm Thiếu nhi nằm trong khái niệm Trẻ em trong Luật Trẻ em (dưới 16)

Các giai đoạn

Sơ sinh (infant) – Tuổi thơ (childhood) – Thanh thiếu niên, tuổi trẻ (adolescence, youth) – Người lớn (adulthood)

Bảng tuần hoàn hóa học kèm minh họa

Bảng tuần hoàn hóa học tiếng Việt có hình minh họa sinh động và dễ hiểu, gồm phiên bản Bằng hình ảnh và phiên bản Bằng chữ, bổ trợ cho nhau. Các độc giả có thể download ảnh về và sử dụng dưới dạng bản mềm, hoặc in ra đến khổ giấy A3. Rất hữu ích cho lớp học cũng như gia đình. Nếu muốn file có độ phân giải cao hơn để in khổ to hơn, xin download pdf ở cuối bài.

Continue reading

Phân biệt: khả năng, năng lực, kỹ năng, tài năng

Khả năng (ability)

Là từ chung nhất, thể hiện việc một người có thể làm và hoàn thành một việc nào đó. Việc đó có thể rất nhỏ, là một kỹ năng hay thậm chí một phần của kỹ năng (sub-skill); và cũng có thể rất to. Ví dụ khả năng làm cách mạng.

Khi nói đến việc lớn, khả năng thường bao gồm cả ý chí, thái độ – là những thứ cần thiết bên cạnh năng lực để có thể làm xong việc. Khả năng có nghĩa rộng, nên có thể áp dụng không chỉ cho cá nhân mà còn cho một nhóm: “khả năng của công ty chúng ta”.

Tài năng (talent)

Tài năng là những đặc tính (quality) đặc biệt, bẩm sinh, không thể có được chỉ bằng cách học. Chúng cũng đươc gọi là khả năng đặc biệt. Ví dụ khả năng tưởng tượng. Nếu vẽ là kỹ năng cứng, thì cộng với tài năng tưởng tượng, “nhìn” sự vật theo cách đặc biệt, có thể cho ra một danh họa.

Tài năng cần được học tập để trở thành kỹ năng, để tạo ra một khả năng làm ra những sản phẩm xuất sắc. Ví dụ có người có tài viết nhưng không đủ kỹ năng thì chỉ lóe sáng chứ không trở thành nhà văn xuất chúng với sự nghiêp đồ sộ được.

Kỹ năng (skill)

Là đơn vị nhỏ nhất, chỉ ra một người có thể làm được việc gì đó. Vì là đơn vị cơ bản, nên người ta có thể liệt kê danh sách các kỹ năng và tìm cách dạy. Kỹ năng có thể chia làm hai loại:

Kỹ năng cứng là kỹ năng làm việc với các sự vật, tức là có tính chất kỹ thuật. Có thể đánh giá được.

Kỹ năng mềm là kỹ năng làm việc với tâm lý con người. Khác với đồ vật, ta không thể tác động trực tiếp lên con người, mà chỉ có thể tạo ảnh hưởng đến họ để mong họ làm điều ta muốn. Vì thế, kỹ năng mềm khó đánh giá và phụ thuộc vào tình huống cụ thể. Ví dụ, một người được coi là có kỹ năng đàm phán giỏi có thể không thành công trong tình huống mà người có kỹ năng đàm phán kém hơn lại ăn, vì cùng có sở thích với đối phương.

Trong những tình huống làm việc với con người nhưng không phải với tâm lý, thì ta nói về kỹ năng cứng. Ví dụ kỹ năng phẫu thuật.

Kỹ năng mềm có thể chia làm 2 nhóm:

  • Kỹ năng làm việc với tâm lý người khác: thuyết trình, đàm phán, lãnh đạo, v.v.
  • Kỹ năng làm việc với tâm lý bản thân: quản lý thời gian, quản lý cảm xúc, áp lực, v.v.

Năng lực (competency)

Năng lực là khả năng làm một việc gì đó chung hơn, khó xác định rõ ràng hơn so với kỹ năng. Ví dụ năng lực tư duy độc lập, năng lực xác định và giải quyết vấn đề. Nó đòi hỏi kết hợp nhiều kiến thức, kỹ năng và cả thái độ tiếp cận vấn đề.

Như vậy, năng lực là khái niệm trừu tượng hơn so với kỹ năng. Năng lực không thể dạy trực tiếp được, mà phải gián tiếp thông qua các kỹ năng cứng, mềm và môi trường thực hành phù hợp. Ví dụ năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực nghiên cứu khoa học.

Ghi chú

Các khái niệm trên không có định nghĩa chặt chẽ. Trên đây chỉ là một cách giải thích nhằm cung cấp thêm một cách phân biệt hữu ích.

Phân biệt: cảm giác, cảm thấy, tri giác, nhận thức

Một số trong các từ này được dùng để chỉ các khái niệm khác nhau, do đó cần cố gắng phân biệt, nhất là khi đả động đến thuật ngữ tâm lý học. Để sắp xếp chúng vào trật tự, ta có thể bắt đầu bằng các động từ tiếng Anh.

Feel và Sense

Đều được dịch là cảm nhận, cảm giác, cảm thấy. Feel khác Sense ở chỗ:

  • Sense là cảm nhận bằng các giác quan, đôi khi ám chỉ các giác quan thứ sáu (với nghĩa đánh hơi, “ngửi” thấy gì đó mơ hồ)
  • Feel là cảm thấy bằng tâm trí, ví dụ cảm thấy vui, buồn.

Tiếng Trung đều được dịch là 感觉 (cảm giác), tiếng Nga là чувствовать ощущать. Hai từ tiếng Anh này có thể cùng dịch ra một từ tiếng Việt, không cần phân biệt.

Sense và Perceive

Sense là cảm nhận bằng một giác quan cụ thể, và do đó chỉ cảm nhận được một phần của sự vật. Perceive là cảm nhận sự vật một cách toàn vẹn, thông qua một hoặc vài giác quan.

Ví dụ bạn sense thấy mùi cafe, còn perceive tách cà phê thông qua mùi, hình ảnh, cảm giác nóng khi chạm vào. Bạn cũng có thể perceive được tách cà phê chỉ bằng khứu giác, hình dung ra các yếu tố còn lại từ kinh nghiệm.

Perceive tiếng Trung là 感知 (cảm tri), tiếng Nga là воспринимать. Tiếng Việt, perceive thường được dịch là nhận thức, lĩnh hội. Từ điển tâm lý và wikipedia tiếng Việt thì dịch là tri giác, tuy nhiên từ “tri giác” có lẽ không phù hợp là động từ.

Vì vậy, đề xuất dịch perceive là cảm tri, và perception là tri giác. Từ “nhận thức” tuy hay được sử dụng, nhưng thật ra nên dùng để chỉ khái niệm khác.

Perceive và Cognize (Perception và Cognition)

Từ cognition mới nên được dịch là nhận thức. Cognition khác Perception ở chỗ, cognition là quá trình tư duy về sự vật, bao gồm nhiều thao tác mà Perception chỉ là một trong số đó: trí nhớ, liên tưởng, nhận dạng kiểu hình (pattern recognition), v.v. Kết quả của Cognition là một nhận thức ổn định lâu dài.

Cognition tiếng Trung là 认识 (nhận thức), tiếng Nga là познание.

Kết luận

Feel, Sense dịch là cảm giác, cảm thấy, cảm nhận.
Perceive dịch là cảm tri. Perception là tri giác. Khi sử dụng nên đi kèm từ tiếng Anh.
Cognition là nhận thức / sự nhận thức.


Quy chế hoạt động của FUNiX Mentor

Tại FUNiX, mentor là các kỹ sư, giảng viên trong lĩnh vực CNTT. Công việc chủ yếu của họ là giải đáp các câu hỏi của học viên, thường là bằng chatting. Họ cũng tham gia chấm bài, hỏi thi vấn đáp, phụ đạo cho học viên, và một số việc khác.

Đặc thù tương tác này làm nảy sinh một số vấn đề, và đòi hỏi một quy tắc làm việc mới, do đó FUNiX đã xây dựng Code of Conduct cho các mentor. Xin chia sẻ với cộng đồng để những ai quan tâm có thể tham khảo.

Dạy Văn hóa Doanh nghiệp là dạy gì?

Văn hóa của một tổ chức cũng giống như tính cách tâm lý của một người. Nếu không hiểu về tâm lý học mà cứ tìm cách học theo thần tượng này khác thì không ăn thua. Nếu ko hiểu về VHDN (văn hóa doanh nghiệp, hay văn hóa của tổ chức nói chung) mà chỉ nghe kể chuyện về các công ty này khác để học theo cũng ko hiệu quả.

Cách tốt nhất để dạy VHDN là hiểu về cấu trúc và nguyên lý của nó. Sau đó, bạn có thể chiêm nghiệm và áp dụng vào một trường hợp cụ thể. Cũng như nếu hiểu về tâm lý học, bạn sẽ giúp bản thân và mọi người hiệu quả hơn.

Continue reading