Thế chiến 2 đã bắt đầu như thế nào? (phần kết)


Ngày 22/6/2021 là kỷ niệm 80 năm ngày phát xít Đức tấn công Liên xô. Radio Svoboda đăng bài phân tích của nhà sử học nổi tiếng Mỹ gốc Nga Yuri Felshtinsky trên cơ sở các tài liệu của Liên xô và Đức những năm 1939-41. Qua đây, ta có bức tranh đầy đủ về ý đồ của Stalin ủng hộ Hitler lên nắm quyền để sử dụng Hitler làm “tàu phá băng của cách mạng”, dọn đường cho Liên xô vào châu Âu. Tại sao hai bên ký Hiệp ước và nghị định thư bí mật chia chác châu Âu, và tại sao rốt cuộc Hitler đã tấn công Liên xô. Ảnh và ghi chú lấy từ bài gốcTiêu đề trong bài do người dịch đặt để dễ theo dõi.

Hitler tấn công Ba lan. Stalin hưởng lợi.

Bối rối, Hitler dừng cuộc tấn công. Trong vài ngày, ông ta phân tích những gì đã xảy ra và cân nhắc những rủi ro. Tuy nhiên, vào ngày 1/9, Ba Lan đã bị tấn công. Hitler kết luận rằng Pháp và Anh sẽ không đồng thời tuyên chiến với Đức và Liên Xô.

Hóa ra ông ta đã đúng: vào ngày 3/9, London và Paris chỉ tuyên chiến với Đức. Vì Hồng quân không nhúc nhích trong những ngày đầu tháng 9/1939. Stalin đã lừa Hitler.

Vào ngày 31 tháng 8, khi biết về cuộc tấn công sắp tới của Đức vào Ba Lan, Molotov đã có một bài phát biểu dài về chính sách đối ngoại trước Xô Viết Tối cao của Liên Xô. Vào ngày Đức tấn công Ba Lan, bài phát biểu được đăng trên Pravda. Ý nghĩa của bài phát biểu là ngày hôm qua Đức Quốc xã là kẻ thù. Hôm nay họ đã trở thành bạn.

Sau ngày 3 tháng 9 năm 1939, tình hình châu Âu thay đổi đáng kể. Một cuộc đại chiến đã được tuyên bố. Sau này người ta gọi nó là “kỳ lạ”, bởi vì các cường quốc tuyên chiến thật ra không có cơ hội để bắt đầu chiến tranh, mà chỉ hy vọng sẽ khiến kẻ xâm lược sợ hãi với sự sẵn sàng chiến đấu của họ, và do đó ngăn chặn cuộc tấn công vào Ba Lan. Nhưng Hitler đã không sợ Anh-Pháp: sau khi liên minh với Stalin, ông ta trở nên bất khả chiến bại đối với các quốc gia dân chủ châu Âu.

Вячеслав Молотов, 1939 год
V. Molotov, 1939

Tuy nhiên, giờ đây Stalin đã nhìn nhận ý nghĩa chiến lược của các cuộc đàm phán và hiệp ước với Hitler ở một điều gì đó khác. Ông ta quan tâm đến cuộc chiến lớn ở châu Âu. Vào ngày 3 tháng 9, nó đã trở thành một sự kiện và một nhân tố. Chiến tranh của Anh và Pháp chống lại Đức (hay Đức chống lại Pháp và Anh) chỉ là vấn đề thời gian. Stalin đã xoay sở để thổi bùng một cuộc chiến tranh lớn bằng bàn tay của Hitler, và trên “con ngựa thành Troy” này ông ta lên kế hoạch tiến vào và chiếm châu Âu.

Vào tối ngày 3/9, khi nhận ra rằng Stalin đã chơi trội, chính phủ Đức gửi đến Moscow bức điện khẩn cấp tuyệt đối bí mật đầu tiên, trong đó từ “bí mật” được nhắc đến 3 lần ở các hình thức khác nhau, với yêu cầu Lãnh đạo Liên Xô bắt đầu các hoạt động quân sự càng sớm càng tốt ở miền đông Ba Lan, vốn được thống nhất trong hiệp định bí mật Xô-Đức. Tại sao lại thế?

Thứ nhất là vì quân Đức bị tổn thất. Tất nhiên, những tổn thất này, sau này cho thấy, là không đáng kể so với tổn thất của quân đội Ba Lan, tuy nhiên, đây là lần đầu tiên tổn thất của quân Đức lên tới hàng nghìn người. Thứ hai, điều quan trọng là Đức phải đề phòng tình huống quân đội Ba Lan rút về phía đông vào vùng ảnh hưởng của Liên Xô, nơi quân Đức không thể tiến vào theo hiệp ước với Liên Xô. Thứ ba, và đây là điều chính, Hitler muốn chứng minh với Ba Lan, Anh và Pháp rằng Stalin là đồng minh của Đức trong cuộc chiến này, chứ không phải là quan sát viên trung lập, và việc tuyên chiến với Đức sẽ là tuyên chiến với Liên Xô.

Nhưng còn một điều khác rất quan trọng. Nếu Stalin tấn công Ba Lan vào ngày 1 hoặc ngày 2 tháng 9, ai biết được, có lẽ Anh và Pháp đã không tuyên chiến với Đức, mà đi theo con đường Tiệp Khắc. Điều này có nghĩa là một cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu không bắt đầu, bất chấp hiệp ước Anh-Ba Lan ngày 26 tháng 8.

Vì vậy, Stalin đã chơi trội hơn tất cả trong những ngày đầu tiên của tháng Chín. Ông ta chờ Đức tấn công Ba Lan và tỏ ra là kẻ xâm lược trong cuộc chiến Đức-Ba Lan; ông ta chờ Anh và Pháp tuyên chiến với Đức; ông ta chờ cho đến khi chính phủ Đức hai lần yêu cầu ông ta tấn công Ba Lan. Và chỉ khi đó, ông ta mới vui lòng đồng ý bắt đầu chiến tranh. Nhưng lại không bắt đầu. Bởi vì Hitler đã rơi vào bẫy và không thể thoát ra.

Đến tối ngày 3/9/1939, Stalin có những cơ hội to lớn. Ông ta có thể, như vào tháng 8, chỉ đơn giản là không làm gì và từ chối xâm lược miền Đông Ba Lan. Trong trường hợp này, ông ta để Hitler một mình chống lại Ba Lan, Pháp và Anh. Hitler sẽ phải chiến đấu trên khắp Ba Lan và chịu tổn thất hàng ngàn quân. Chiến dịch quân sự chống lại Ba Lan sẽ phải kéo dài hơn, và vì thế quân đội của Pháp và Anh, vốn không được chuẩn bị cho chiến tranh, sẽ được cải thiện phần nào. Biên giới Xô-Đức mới sẽ chạy dọc theo biên giới Xô-Ba Lan cũ năm 1939, đã được Liên xô củng cố rất tốt trong tình hình chờ đợi chiến tranh với Ba Lan thù địch. Đồng thời, Stalin lôi kéo được châu Âu vào Chiến tranh thế giới thứ hai, tức là ông ta đang thực hiện kế hoạch thâm hiểm của mình về “tàu phá băng cách mạng”, đứng bên quan sát các đối thủ tiêu diệt lẫn nhau và chọn thời điểm để nhảy vào.

Cũng có những lựa chọn khác. Stalin đã có thể tuyên bố vào ngày 3/9 rằng việc Pháp và Anh tuyên chiến với Đức là một sự kiện bất khả kháng làm thay đổi hoàn toàn tình hình quốc tế là điều kiện ký kết hiệp ước không xâm lược giữa Đức và Liên Xô, và hủy bỏ Hiệp ước Xô-Đức cùng với nghị định thư mật của nó. Tất nhiên, Hitler sẽ coi bước đi này là thù địch, với tất cả những hậu quả sau đó. Tuyên bố như vậy có nghĩa là Liên Xô vào tháng 9/1939 sẽ tham gia vào cuộc chiến tranh thế giới với phe của Ba Lan, Anh và Pháp. Nhưng tuyên bố tương tự có thể đã buộc Hitler từ bỏ kế hoạch chiếm đóng Ba Lan và tìm kiếm cơ hội để giải quyết sớm cuộc xung đột bùng phát thông qua trung gian, chẳng hạn như Ý. Nói cách khác, Stalin đã có thể ngăn chặn Chiến tranh Thế giới thứ hai ngay cả sau ngày 3/9/1939.

Nhưng Stalin không hề có kế hoạch ngăn chặn cuộc xâm lược của Đức vào Ba Lan cũng như sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai. Vào ngày 5/9/1939, trước yêu cầu lặp đi lặp lại của Ribbentrop, Stalin xác nhận rằng ông ta sẽ bảo lưu quyền ở phía Đông Ba Lan, nhưng hiện tại ông ta sẽ không tấn công, ngay cả khi quân Đức buộc phải xâm lược ở đâu đó các khu vực dưới ảnh hưởng của Liên Xô.

Генеральный секретарь ЦК ВКП(б) Иосиф Сталин пожимает руку министру иностранных дел нацистской Германии Йоахиму фон Риббентропу после подписания пакта Молотова – Риббентропа. Москва, 23 августа 1939 года
Joseph Stalin bắt tay Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đức Quốc xã Ribbentrop sau khi Hiệp ước Molotov-Ribbentrop được ký kết. Matxcova, ngày 23/8/1939

Thực tế là trong trường hợp Ba Lan bị chia cắt nhanh chóng và chiến dịch Ba Lan kết thúc, Chiến tranh thế giới thứ hai có thể tàn lụi mà không bùng phát, và kết thúc bằng việc Ba Lan biến mất khỏi bản đồ thế giới. Đây chính xác là điều mà Hitler đang trông đợi, vẫn muốn tránh một cuộc chiến tranh lớn. Mặt khác, Stalin muốn Đức chiến đấu với Ba Lan lâu hơn, một chọi một, và làm kiệt quệ lẫn nhau nhiều hơn. Ba Lan chiến đấu với Đức càng lâu, họ càng ít sức lực để chống lại sự xâm lược của Hồng quân.

Đồng thời, Stalin dự định chỉ bắt đầu tiến vào miền Đông Ba Lan sau khi quân Đức chiếm được Warsaw, và Molotov sẽ tuyên bố trong bài phát biểu của mình rằng Ba Lan, “đứa con xấu xí của Hiệp ước Versailles”, đã tan rã và Hồng quân tiến vào Ba Lan để bảo vệ người Ukraine và Belarus sống ở đó, theo thỏa thuận với Đức.

Nhưng có một chuyện tế nhị: đó là mối đe dọa rằng Đức, sau khi chiếm Warsaw và Tây Ba Lan, sẽ ký một hiệp định đình chiến với chính phủ Ba Lan, mà Stalin luôn coi là thù địch với Liên Xô. Và rồi Stalin sẽ lại đối mặt với mối đe dọa cũ – rằng Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ tàn lụi mà không bùng lên. Do đó, vào ngày 10/9, Liên Xô thông báo với Berlin rằng họ sẽ bắt đầu các chiến dịch quân sự chống lại Ba Lan nếu Đức hứa sẽ không ký một hiệp định đình chiến với Ba Lan. Vào ngày 13 tháng 9, Ribbentrop đảm bảo với Stalin rằng “câu hỏi về sự cần thiết đình chiến với Ba Lan” không được chính phủ Đức đặt ra. Vào ngày 14 tháng 9, Molotov triệu tập đại sứ Đức tại Liên Xô, Werner von der Schulenburg, và yêu cầu ông ta chấp nhận rằng việc quân Đức chiếm Warsaw là điều kiện tiên quyết để bắt đầu các chiến dịch quân sự của Hồng quân chống lại Ba Lan. Vào ngày 17/9 lúc 2 giờ sáng, khi nhận được thông tin về việc quân Đức đã chiếm được Warsaw, Stalin triệu tập Schulenburg và nói với ông ta rằng cuộc tấn công của Hồng quân sẽ bắt đầu lúc 6 giờ sáng theo giờ Moscow dọc theo toàn bộ chiều dài biên giới Xô-Ba Lan.

Vào tháng 9 năm 1939, khi nhận ra rằng một cuộc chiến tranh lớn đã được tuyên bố, Hitler hy vọng rằng ngọn lửa chiến tranh sẽ lặng lẽ âm ỉ cho đến khi bản thân Hitler sẵn sàng cho các hoạt động tấn công tích cực mới ở phương Tây. Hy vọng này của Hitler đã thành sự thật. Pháp và Anh không sẵn sàng về mặt quân sự, chính trị và tâm lý để bắt đầu chiến tranh vì Ba Lan. Từ quan điểm quân sự, các chiến dịch do quân đội Đức thực hiện vào tháng 9 năm 1939 – mùa hè năm 1941 được coi là thành công rực rỡ. Đế quốc Anh chỉ có thể dựa vào hải quân của mình và những bờ dốc của eo biển Manche. Nó không có đủ sức để chiến đấu tích cực trên bộ. Pháp đã bị đánh bại. Mỹ vô hiệu hóa. Các yêu sách lãnh thổ của Liên Xô đã được thỏa mãn.

Trong tất cả sự kết hợp này, Hitler đã thực hiện một tính toán sai lầm về địa chính trị, cũng là thành công duy nhất của nước Anh: trong quá trình chinh chiến ở châu Âu, một biên giới chung được hình thành giữa Đế quốc Đức và Liên Xô. Bây giờ Hitler phải đối mặt với một vấn đề mà lẽ ra ông ta phải thấy trước và tránh, bởi vì nó không thể không dẫn đến một cuộc đụng độ quân sự của hai đế quốc, hai chế độ, hai độc tài. Hai con trăn đã tiêu hóa hết mọi thứ chúng nuốt năm trước. Đã đến lúc phải đánh giá lại khẩu vị của các bên: ngày 12/11/1940, Molotov đến Berlin để thực hiện một giai đoạn đàm phán mới.

Đàm phán mới Xô Đức bế tắc. Đức tấn công Liên xô

Các cuộc đàm phán rất khó khăn. Molotov yêu cầu sự đồng ý của Đức đối với việc Liên Xô đánh chiếm Phần Lan (quốc gia đã bảo vệ nền độc lập của mình trong Chiến tranh Mùa đông 1939-1940); cho việc chiếm đóng Bulgaria, cho việc “xây dựng một căn cứ cho lực lượng mặt đất và hải quân của Liên Xô ở khu vực eo biển Bosphorus và Dardanelles trên cơ sở thuê dài hạn” và thậm chí, trong những điều kiện nhất định, cho một cuộc chiến tranh chung Xô-Ý với Thổ Nhĩ Kỳ. Ngoài ra, Molotov nhiều lần đề cập rằng Liên Xô rất quan tâm đến số phận của Romania (vốn đã giao cho Liên Xô, sau một tối hậu thư được đưa ra vào mùa hè năm 1940, không chỉ Bessarabia, mà còn Bắc Bukovina) và Hungary. Cuối cùng, Molotov kiên quyết yêu cầu Nhật Bản từ bỏ các quyền khai thác dầu và than ở bắc Sakhalin.

Với khẩu vị khủng của giới lãnh đạo Liên Xô, sẽ dễ dàng hơn cho Hitler nếu đưa toàn bộ Liên Xô vào quỹ đạo của mình, và ông ta mời Stalin tham gia vào Hiệp ước Ba nước gồm Đức, Ý và Nhật Bản, đã ký tại Berlin vào ngày 27/9/1940. Do đó, dựa trên kết quả của cuộc đàm phán tháng 11 tại Berlin, Đức đã đưa ra một dự thảo thỏa thuận giữa các cường quốc của phe Trục và Liên Xô. Dự thảo bao gồm hai nghị định thư bí mật với danh sách dài các ý định gây hấn của Liên Xô và Đức. Ví dụ, Hitler đồng ý rằng “các lợi ích lãnh thổ chính” của Liên Xô “nằm ở phía nam của lãnh thổ Liên Xô theo hướng Ấn Độ Dương” và “Đức, Ý và Liên Xô sẽ làm việc cùng nhau để thay thế Công ước Montreux về chế độ của các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ bằng một công ước mới. Theo đó, Liên Xô sẽ có quyền không hạn chế đi qua Eo biển bất kỳ lúc nào đối với hải quân của mình, trong khi tất cả các cường quốc khác, ngoại trừ các cường quốc Biển Đen, kể cả Đức và Ý, về nguyên tắc, sẽ từ bỏ quyền đi qua eo biển của các tàu chiến của họ”. Những yêu cầu của Molotov về việc nhượng lại Phần Lan, Bulgaria và căn cứ ở eo biển Bosphorus và Dardanelles đã bị Hitler phớt lờ. Romania và Hungary cũng không được đề cập.

Vào tối ngày 25/11/1940, Molotov mời Schulenburg đến chỗ của mình để đưa câu trả lời về đề nghị của Đức. Chính phủ Liên Xô đã sẵn sàng “chấp nhận dự thảo hiệp ước của bốn cường quốc về hợp tác chính trị và tương trợ kinh tế”, nhưng với những sửa đổi nghiêm túc. Đức phải ngay lập tức rời khỏi “Phần Lan, mà theo hiệp ước 1939, nằm trong vùng ảnh hưởng của Liên Xô”; Bulgaria cũng phải được đưa vào vùng ảnh hưởng của Liên Xô. “Trong vài tháng tới, vấn đề an ninh cho Liên Xô từ phía eo biển” phải được đảm bảo bằng việc “xây dựng một căn cứ cho các lực lượng trên bộ và hải quân của Liên Xô ở Bosphorus và Dardanelles trên cơ sở thuê dài hạn”. Đức cũng phải cam kết công nhận “khu vực phía nam Batumi và Baku theo hướng chung về Vịnh Ba Tư” là “trung tâm của những tham vọng lãnh thổ của Liên Xô,” còn Nhật Bản phải từ bỏ quyền khai thác than và dầu ở phía bắc Sakhalin. Chính phủ Liên Xô cũng kiên quyết yêu cầu Thổ Nhĩ Kỳ tham gia hiệp ước bốn cường quốc, và trong trường hợp từ chối thì “Ý và Liên Xô sẽ cùng nhau”, trên cơ sở một thỏa thuận riêng mới, áp dụng “các biện pháp trừng phạt quân sự và ngoại giao” đối với Thổ Nhĩ Kỳ.

Hitler đề nghị ký hai nghị định thư bí mật. Stalin đề nghị ký năm nghị định thư bí mật: nghị định thư bí mật thứ ba giữa Đức và Liên Xô liên quan đến Phần Lan; nghị định thư bí mật thứ tư giữa Nhật Bản và Liên Xô về việc Nhật Bản từ bỏ quyền khai thác dầu và than ở Bắc Sakhalin; Nghị định thư bí mật thứ năm giữa Đức, Liên Xô và Ý, thừa nhận thực tế là Bulgaria có vị trí địa lý nằm trong khu vực an ninh biên giới Biển Đen của Liên Xô, và rằng việc ký kết hiệp ước tương trợ Xô-Bulgaria “là một điều cần thiết về mặt chính trị “.

Hitler hứa sẽ suy nghĩ.

Thật khó để đưa ra thứ gì hùng hồn hơn câu trả lời mà ông ta đưa ra cho yêu cầu của Liên Xô ngày 25/11/1940. Ngày 18/12/1940, Hitler ký Chỉ thị số 21, “kế hoạch Barbarossa”, về việc chuẩn bị tấn công Liên Xô.

Немецкие войска переходят границу СССР. 22 июня 1941 года
Quân đội Đức vượt biên giới Liên Xô. 22 tháng 6 năm 1941

Tất nhiên, Liên Xô không biết về việc ký chỉ thị này. Nhưng họ đã được thông báo về việc Hitler từ chối các yêu cầu ngày 25 tháng 11 của Liên xô. Quan hệ Xô-Đức đi vào bế tắc. Đức đã đóng quân ở Phần Lan, Bulgaria và Romania, tức là trong khu vực mà Stalin tuyên bố là của riêng mình. Hitler không còn cho rằng cần phải nhượng bộ. Điều này có nghĩa là Stalin chỉ có thể tiến hành các cuộc chiếm đoạt thêm thông qua chiến tranh. Một cuộc đụng độ giữa hai quốc gia độc tài đã trở nên không thể tránh khỏi. Vào ngày 22/6, 4 giờ sáng theo giờ Berlin, Ribbentrop triệu tập Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô Vladimir Dekanozov và trao một công hàm dài của chính phủ Đức về việc tuyên chiến, được ghi ngày 21/6. Nói thêm rằng, công hàm này là một tài liệu tuyên truyền của Đức, biện minh cho sự khởi đầu của các hành động chiến tranh chống lại Liên Xô bằng lý do là Liên xô tập trung quân đội dọc theo biên giới Đức-Xô. Nói cách khác, theo công hàm, cuộc tấn công của Đức vào Liên Xô là đòn phủ đầu nhằm vào Hồng quân, vốn sẵn sàng mở cuộc tấn công vào Đức bất cứ lúc nào.

Từ tầm nhìn ngày nay, chúng ta quen coi ngày 22/6/1941 là sai lầm lớn nhất của Hitler. Nhưng rõ ràng các hoạt động tấn công mùa hè năm 1941 là đỉnh cao trong cuộc đời binh nghiệp của ông ta. Cuộc chiến của Đức chống lại Liên Xô là ở mức chiến thuật, không phải chiến lược. Hitler đã lên kế hoạch đánh bại Hồng quân trong vài tháng, và trên quan điểm quân sự, ông ta đã hoàn thành nhiệm vụ. Như trước đây, ông ta không định chinh chiến lâu. Ông ta đã không tìm kiếm sự giúp đỡ từ một đồng minh tiềm năng quan trọng là Nhật Bản. Với sự căng thẳng trong quan hệ Xô-Nhật trong suốt những năm 1930, người ta có thể chờ đợi rằng Hitler thuyết phục người Nhật tấn công Liên Xô từ phía Đông. Nhưng điều này đã không xảy ra, và mặt trận thứ hai của Nhật Bản chống lại Liên Xô đã không được mở ra. Thay vào đó, Nhật Bản phát động hành động quân sự chống lại Mỹ, kéo Mỹ vào chiến tranh thế giới.

Tất nhiên, Hitler đã tính toán sai. Bất chấp những thất bại thảm hại của Hồng quân vào hè và thu năm 1941, Hitler cuối cùng, như Stalin đã giả định, hóa ra lại là “kẻ phá băng của cách mạng.” Quân đội Liên Xô tiến vào Berlin và thiết lập hệ thống chính quyền cộng sản ở Đông Âu. Chỉ có điều nó xảy ra bốn năm sau đó. Và vì Stalin, không giống Pháp và Anh, không cần chiến thắng “ít đổ máu”, mà quan trọng là chiến thắng “bằng mọi giá”, nên những tổn thất của Liên Xô trong Thế chiến II thậm chí còn không được tính. 50 năm sau, vào năm 1991, đế chế được xây dựng bởi Stalin đã sụp đổ, mất đi các thành phố và vùng đất mà ông ta đã chiếm. Chính sách Stalin 1939-1941 trong mối quan hệ với Đức và châu Âu đã kết thúc trong thất bại và trở thành thảm họa cho chính Liên Xô, vì phải chịu sức nặng của những nhiệm vụ đế quốc bất khả. Các đế chế mất nhiều thời gian để xây, nhưng nhanh chóng sụp đổ. Có lẽ, chúng không nên được xây dựng trên máu của công dân mình và nước khác. Đây là một trong những bài học rõ ràng của Thế chiến hai.

Hết

Nếu độc giả hứng thú, xin mời đọc bài phân tích về 14 dấu hiệu của chủ nghĩa phát xít của nhà văn nổi tiếng Umberto Eco.

1 thought on “Thế chiến 2 đã bắt đầu như thế nào? (phần kết)

  1. Pingback: Thế chiến 2 đã bắt đầu như thế nào? (phần 2) | Phan Phuong Dat

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s