Dưới đây là hai lời giới thiệu của ấn bản tiếng Việt cho cuốn Gương soi Nhân loại (Mirror for Man) của Clyde Kluckhohn, Lời nói đầu của tác giả, và Mục lục.

LỜI GIỚI THIỆU
PGS TS Nguyễn Trường Giang
Có những cuốn sách đến với một ngành học như một cánh cửa mở đầu, nhưng cũng có những cuốn sách ở lại lâu hơn số phận nhập môn ban đầu của nó, bởi mỗi lần đọc lại, người đọc lại nhận ra một lớp ý nghĩa mới. Gương soi nhân loại của Clyde Kluckhohn thuộc vào loại thứ hai. Cuốn sách được viết trong bối cảnh giữa thế kỷ XX, khi nhân loại vừa trải qua những đổ vỡ sâu sắc do chiến tranh, chủ nghĩa chủng tộc, các ý thức hệ cực đoan và những va chạm văn hóa toàn cầu gây ra. Nhưng điều làm cho tác phẩm này tiếp tục có sức sống không chỉ nằm ở giá trị lịch sử của nó. Điều quan trọng hơn là Kluckhohn đã đặt ra một câu hỏi vẫn còn nguyên tính thời sự: Con người có thể hiểu nhau như thế nào khi họ khác nhau về ngôn ngữ, thân thể, ký ức, tín ngưỡng, lối sống, chuẩn mực đạo đức và những hình dung về thế giới?
Với người làm nhân học, câu hỏi ấy không bao giờ chỉ là một vấn đề lý thuyết. Nó là kinh nghiệm nghề nghiệp, là sự bối rối ban đầu khi bước vào một cộng đồng khác, là cảm giác phải học lại những điều tưởng như hiển nhiên, là nỗ lực lắng nghe những tiếng nói không quen thuộc mà không vội quy chiếu chúng vào hệ giá trị của mình. Vì vậy, khi đọc Gương soi nhân loại, người trong nghề dễ nhận thấy phía sau văn phong sáng rõ và gần gũi của Kluckhohn là một sự từng trải học thuật rất sâu: ông không muốn biến nhân học thành kho chuyện lạ về các dân tộc xa xôi, mà muốn trả lại cho nhân học tư cách của một khoa học nhân văn về chính con người, về những khả năng khác nhau mà con người đã sáng tạo ra để sống, tin, nhớ, yêu thương, tổ chức cộng đồng và giải quyết các vấn đề của đời mình.
Clyde Kluckhohn, Giáo sư Nhân học tại Đại học Harvard, là một trong những học giả góp phần quan trọng vào việc khẳng định nhân học như một lĩnh vực có khả năng kết nối nhiều ngành khoa học về con người. Ở ông, nhân học không chỉ là dân tộc chí, khảo cổ học, nhân học thể chất hay nghiên cứu ngôn ngữ theo nghĩa tách rời. Nhân học là một nỗ lực tổng hợp, nơi những mảnh gốm, hộp sọ, phong tục, huyền thoại, nghi lễ, ngôn ngữ và nhân cách đều được đặt trong một câu hỏi rộng hơn: Con người là gì trong tính đa dạng của các hình thức sống? Chính vì vậy, cuốn sách này có giá trị đặc biệt đối với bạn đọc Việt Nam hôm nay, khi khoa học xã hội và nhân văn đang cần những cách tiếp cận liên ngành, liên văn hóa và nhạy cảm hơn trước các vấn đề phát triển, di sản, tộc người, tôn giáo, di cư, môi trường, truyền thông và biến đổi xã hội.
Ẩn dụ trung tâm của cuốn sách nằm ngay ở nhan đề: Nhân học là một tấm gương. Nhưng đây không phải là tấm gương để con người tự chiêm ngưỡng mình trong một hình ảnh đơn nhất, càng không phải là tấm gương để xã hội này phán xét xã hội khác. Đó là tấm gương lớn, đa diện, cho phép ta nhìn thấy con người trong vô vàn sắc thái. Khi nhìn vào phong tục của người khác, ta không chỉ biết thêm về họ; ta cũng phát hiện ra rằng chính mình đang nhìn thế giới qua một lăng kính văn hóa. Cái ta vẫn tưởng là tự nhiên, hợp lý, văn minh hoặc hiển nhiên nhiều khi chỉ là kết quả của quá trình học tập văn hóa lâu dài. Sự tỉnh thức ấy là đóng góp căn bản của nhân học: Nó làm cho con người bớt tự mãn, bớt vội vàng phán xét và có khả năng hiểu cái khác như một khả thể nhân văn chứ không phải như một sai lệch cần loại bỏ.
Vị trí của Gương soi nhân loại trước đây nằm ở vai trò phổ thông hóa nhân học mà không làm đơn giản hóa nhân học. Kluckhohn viết cho độc giả rộng rãi, nhưng ông không hạ thấp chuẩn mực tư duy. Ông trình bày những vấn đề lớn của ngành học bằng giọng văn dễ tiếp cận, giàu ví dụ, đôi khi dí dỏm, nhưng luôn thận trọng trong phán đoán. Ông ý thức rằng nhân học còn non trẻ, dữ liệu còn đang được tích lũy, các diễn giải còn có thể khác nhau, và nhà nghiên cứu phải biết phân biệt giữa điều đã có chứng cứ, điều đang được tranh luận và điều chỉ là giả thuyết. Chính thái độ ấy làm cho cuốn sách, dù được viết cho công chúng, vẫn mang phẩm chất học thuật đáng quý: Cởi mở, trung thực, chống giáo điều và luôn nhắc người đọc rằng hiểu con người là một công việc khó khăn, lâu dài, không thể thay thế bằng những khẩu hiệu giản lược.
Các chương đầu của sách, với những nhan đề như “Những phong tục kỳ lạ, mảnh gốm và hộp sọ”, đưa người đọc trở lại những hình dung phổ biến về nhân học trong buổi đầu: Phong tục lạ, hiện vật khảo cổ, di cốt người, các nhóm cư dân xa lạ. Nhưng Kluckhohn đã biến chính những hình dung ấy thành điểm xuất phát để giải thích vì sao nhân học quan trọng. Những mảnh gốm không chỉ là đồ vật cũ; chúng là dấu vết của kỹ thuật, thẩm mỹ, sinh kế và tổ chức xã hội. Những hộp sọ không chỉ thuộc về đo đạc hình thể; chúng gợi ra câu hỏi về tiến hóa, khác biệt sinh học và giới hạn của mọi suy diễn chủng tộc. Những phong tục bị xem là kỳ lạ không chỉ để kể cho vui; chúng buộc người đọc phải hỏi vì sao con người, trong những điều kiện lịch sử và văn hóa khác nhau, lại có thể tạo ra những quy tắc sống khác nhau đến vậy.
Chương “Những phong tục kỳ lạ” đặc biệt có ý nghĩa đối với người học nhân học vì ở đó Kluckhohn trình bày một cách dễ hiểu nhưng sâu sắc về khái niệm văn hóa. Văn hóa, trong cách hiểu nhân học, không chỉ là văn chương, nghệ thuật, trình độ học vấn hay những biểu hiện được coi là tinh hoa. Văn hóa là toàn bộ cách sống, là môi trường do con người tạo ra, là bản thiết kế xã hội chi phối cách người ta ăn, mặc, cư trú, yêu thương, cưới hỏi, nuôi dạy trẻ em, tưởng niệm người chết, phân biệt đúng sai và hình dung về điều thiêng. Đối với bối cảnh Việt Nam, nơi khái niệm văn hóa thường được sử dụng rất rộng nhưng đôi khi thiếu phân tích, chương này là một lời nhắc quan trọng: Muốn nghiên cứu văn hóa phải đi vào đời sống thường ngày, vào những thực hành nhỏ bé, vào những điều cộng đồng coi là bình thường, bởi chính ở đó văn hóa vận hành mạnh mẽ nhất.
Một trong những chương có giá trị bền vững nhất là “Chủng tộc – một huyền thoại thời hiện đại”. Trong lịch sử thế kỷ XX, khái niệm chủng tộc từng bị lạm dụng để biện minh cho phân biệt, áp bức, bạo lực và những thảm họa nhân loại. Kluckhohn, trong tinh thần nhân học Boas, góp phần phá vỡ những huyền thoại giả khoa học ấy. Ông cho thấy không thể dùng khác biệt sinh học để suy diễn tùy tiện về năng lực, đạo đức hay giá trị của các cộng đồng người. Đọc chương này hôm nay, ta không chỉ đọc một văn bản chống chủ nghĩa chủng tộc trong quá khứ. Ta còn được nhắc nhở về một nguy cơ luôn tái xuất hiện trong đời sống hiện đại: Nguy cơ bản chất luận hóa con người theo tộc người, vùng miền, giới tính, tôn giáo, giai tầng hoặc văn hóa. Nhân học, trong ý nghĩa đó, là một khoa học chống định kiến.
Chương “Món quà của ngôn ngữ” mở ra một bình diện khác của đời sống con người. Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền đạt thông tin, mà còn là nơi lưu giữ ký ức, tri thức, cảm xúc, cách phân loại thế giới và bản sắc cộng đồng. Đối với Việt Nam, một quốc gia đa tộc người và đa ngôn ngữ, chương này có sức gợi mở rất lớn. Nó giúp ta suy nghĩ sâu hơn về bảo tồn tiếng nói, chữ viết, tri thức bản địa, giáo dục song ngữ và quyền văn hóa của các cộng đồng thiểu số. Khi một ngôn ngữ suy giảm, cái mất đi không chỉ là một hệ thống từ vựng; đó còn là sự suy yếu của một cách nhìn thế giới, một kho ký ức và một phương thức truyền đời giữa các thế hệ.
Chương “Nhà nhân học trong công việc” có lẽ sẽ làm nhiều sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh cảm thấy gần gũi. Công việc của nhà nhân học trong sách không được mô tả như một cuộc phiêu lưu lãng mạn, mà như một lao động khoa học đòi hỏi sự kiên nhẫn, khiêm nhường và tự kiểm soát. Nhà nhân học phải học cách quan sát, ghi chép, đặt câu hỏi, lắng nghe, học ngôn ngữ, sống cùng cộng đồng, nhận ra định kiến của chính mình và hiểu rằng dữ liệu nhân học không phải là những con số vô danh, mà là đời sống của những con người cụ thể. Đây là điều người trong nghề đặc biệt thấm thía: Điền dã không chỉ là phương pháp thu thập thông tin, mà còn là một kỷ luật đạo đức, một quá trình rèn luyện sự nhạy cảm và trách nhiệm trong tiếp xúc với người khác.
Ở chương “Nhân cách trong văn hóa”, Kluckhohn đặt ra vấn đề mà nhân học ngày nay vẫn tiếp tục theo đuổi: Cá nhân được hình thành như thế nào trong các khuôn mẫu văn hóa? Con người không phải là sản phẩm thụ động của xã hội, nhưng cũng không thể được hiểu như một cá nhân hoàn toàn tách khỏi gia đình, giáo dục, nghi lễ, giới tính, quan hệ quyền lực và những kỳ vọng đạo đức của cộng đồng. Chương này gợi mở nhiều hướng nghiên cứu quan trọng cho Việt Nam hiện nay, từ biến đổi gia đình, chăm sóc trẻ em, di cư lao động, thanh niên, giáo dục, cho đến những căng thẳng giữa cá nhân hóa và đạo lý cộng đồng. Nó cho thấy nhân học có khả năng nối kết tâm lý học, xã hội học, giáo dục học và nghiên cứu văn hóa trong một cách nhìn mềm mại nhưng không kém phần sâu sắc.
Hai chương cuối về nước Mỹ và thế giới qua lăng kính nhân học đánh dấu một chuyển động rất đáng chú ý: Nhân học không chỉ nhìn về những xã hội xa xôi, mà quay trở lại soi chiếu chính xã hội của nhà nghiên cứu. Đây là bước chuyển có ý nghĩa lâu dài trong lịch sử ngành. Nó nhắc chúng ta rằng không có xã hội nào đứng ngoài văn hóa; không có nền văn minh nào
hoàn toàn trong suốt với chính mình; và không có hiện đại nào không chứa trong nó những huyền thoại, nghi lễ, biểu tượng, mâu thuẫn và những điều chưa được nhận thức đầy đủ. Với thế giới hôm nay, khi toàn cầu hóa, di cư, bất bình đẳng, xung đột bản sắc, truyền thông số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc đời sống con người, cách nhìn nhân học ấy càng cần thiết. Nó giúp ta không chỉ hỏi công nghệ làm được gì, mà còn hỏi con người sống với công nghệ ấy ra sao, cộng đồng bị biến đổi như thế nào và những hệ giá trị nào đang được tái cấu trúc.
Tất nhiên, đọc Gương soi nhân loại hôm nay cần một ý thức lịch sử và một thái độ phê phán. Một số thuật ngữ, ví dụ và cách diễn đạt của nhân học giữa thế kỷ XX không còn hoàn toàn phù hợp với nhân học đương đại, nhất là sau các phê phán hậu thực dân, nhân học phản tư, nhân học bản địa, nghiên cứu giới và những tranh luận mới về quyền lực tri thức. Nhưng một tác phẩm kinh điển không sống lâu vì nó không có giới hạn. Nó sống lâu vì nó mở ra những câu hỏi lớn, tạo nên một truyền thống đối thoại và khiến các thế hệ sau tiếp tục suy nghĩ. Đọc Kluckhohn, ta không cần tiếp nhận mọi điều như chân lý cuối cùng; điều quan trọng là học được ở ông một tinh thần khoa học: muốn hiểu con người thì phải kiên nhẫn với sự phức tạp, phải tôn trọng khác biệt và phải biết quay lại soi xét chính vị trí của người quan sát.
Đối với bạn đọc Việt Nam, cuốn sách này có thể được đọc ở nhiều tầng mức. Với sinh viên nhập môn, đây là lời mời bước vào nhân học bằng con đường sáng sủa, hấp dẫn và giàu nhân văn. Với học viên cao học và nghiên cứu sinh, đây là một văn bản đáng đọc để hiểu lịch sử tư tưởng ngành và những vấn đề nền tảng của nghiên cứu con người. Với giảng viên và nhà khoa học xã hội, cuốn sách gợi lại lý tưởng liên ngành của nhân học, một ngành học luôn đứng giữa sinh học và văn hóa, giữa quá khứ và hiện tại, giữa cái địa phương và cái toàn cầu, giữa mô tả tỉ mỉ và khát vọng hiểu biết phổ quát. Với độc giả rộng rãi, cuốn sách đem lại một năng lực quý giá: Năng lực nhìn cái lạ mà không vội phán xét, và nhìn cái quen như thể nó cũng cần được giải thích.
Tôi muốn giới thiệu Gương soi nhân loại không chỉ như một cuốn sách nhập môn nhân học nổi tiếng, mà còn như một người bạn học thuật có thể đồng hành với nhiều thế hệ người học. Có những trang sách khiến ta nhớ lại lý do vì sao mình đến với nhân học: Không phải vì muốn sở hữu một kho tri thức về người khác, mà vì muốn học cách hiểu con người trong phẩm giá, sự đa dạng và tính không giản lược của họ. Ở một thời đại mà những định kiến có thể lan truyền rất nhanh, những khác biệt dễ bị biến thành đối lập, và các phán xét đạo đức đôi khi đi trước hiểu biết, cuốn sách của Kluckhohn nhắc chúng ta rằng hiểu biết nhân học vẫn là một nhu cầu xã hội sâu xa. Nó giúp con người chậm lại một chút trước khi kết luận, lắng nghe thêm một chút trước khi phán xét, và khiêm nhường hơn một chút trước sự phong phú của nhân loại.
Từ những phong tục từng bị xem là kỳ lạ, từ những mảnh gốm và hộp sọ, từ ngôn ngữ, nhân cách, nước Mỹ và thế giới, Kluckhohn dẫn người đọc đi qua một hành trình quan trọng: Hành trình nhận ra rằng nhân loại không thể được hiểu bằng một thước đo duy nhất. Con người vừa giống nhau trong những nhu cầu căn bản, vừa khác nhau trong các hình thức văn hóa, vừa độc đáo trong từng kinh nghiệm cá nhân. Chính sự đan xen giữa cái chung, cái riêng và cái độc nhất ấy làm nên vẻ đẹp, thách thức và trách nhiệm của nhân học. Và cũng chính vì vậy, Gương soi nhân loại vẫn xứng đáng được đọc, được giảng dạy, được thảo luận và được giới thiệu rộng rãi đến những ai quan tâm đến con người, văn hóa và tương lai chung của chúng ta.
Và hơn nữa, chúng ta cũng phải cảm ơn nhóm dịch và hiệu đính Nguyễn Thị Hiền và Phan Phương Đạt đã dày công chuyển ngữ cho chúng ta được tiếp cận với công trình có ý nghĩa khoa học và nhân văn này.
PGS.TS. Nguyễn Trường Giang
Trưởng Khoa Nhân học và Tôn giáo học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
LỜI NGƯỜI DỊCH
Chúng tôi không phải là những nhà nhân học hay được đào tạo về nhân học. Chúng tôi làm trong doanh nghiệp, với khách hàng và đối tác đến từ khắp nơi trên thế giới. Trong một môi trường toàn cầu như vậy, chúng tôi đã gặp nhiều vấn đề nảy sinh từ khác biệt văn hóa, và từ nhu cầu hiểu văn hóa doanh nghiệp, chúng tôi đã mở rộng tìm hiểu sang lĩnh vực nhân học văn hóa.
Nếu ai học các khóa về văn hóa doanh nghiệp chắc từng nghe đến Clyde Kluckhohn vốn là đồng tác giả của một bài tổng hợp và phân loại 161 định nghĩa khác nhau về văn hóa, để thể hiện mức độ bao trùm và phức tạp của khái niệm này. Ông cũng là người đã phát triển Lý thuyết Định hướng Giá trị (Values Orientation Theory), theo đó tất cả các nền văn hóa đều có chung một số mối quan tâm cơ bản như Bản chất con người, Thời gian, Quan hệ xã hội, v.v. nhưng lại có quan điểm rất khác nhau. Sau khi ông mất đột ngột năm 1960, vợ ông là Florence Kluckhohn cùng các cộng sự đã phát triển tiếp lý thuyết này và được các nhà nhân học sử dụng rộng rãi.
Cuốn Gương soi nhân loại (Mirror for Man) được ông xuất bản năm 1949 và đến này vẫn được coi là một trong các sách nhập môn nhân học hay nhất. Kluckhohn cho rằng nhân học là một tấm gương để con người soi vào để nhận ra bản thân về mặt văn hóa. Ông viết:
“Thông thường, chúng ta không nhận ra cái lăng kính đặc biệt mà ta dùng để nhìn cuộc sống. Là cá thì khó có thể phát hiện ra sự tồn tại của nước. Những nhà nghiên cứu chưa vượt ra khỏi chân trời xã hội của mình thì không thể tri nhận được những phong tục vốn là chất liệu tư duy của họ. Nhà khoa học nghiên cứu về con người cần hiểu rõ cả con mắt đang quan sát lẫn đối tượng được quan sát. Nhân học chính là tấm gương lớn phản chiếu con người, cho phép con người nhìn chính mình trong vô vàn sắc thái khác nhau. Đó mới là ý nghĩa công việc của nhà nhân học trong các xã hội không có chữ viết, chứ không phải chỉ là thỏa mãn sự tò mò lười nhác hay những cuộc phiêu lưu lãng mạn.”
Ông kỳ vọng khi nhìn vào tấm gương lớn đó ta sẽ nhận ra “mỗi người đều giống tất cả những người khác, giống một số người khác, và không giống ai khác”. Ta vừa thuộc về nhân loại, vừa thuộc về văn hóa của mình, lại vừa là một con người độc đáo có một không hai.
Nhân học, mà bao trùm là nhân học văn hóa, có vai trò kết nối các ngành khoa học về con người, kể cả khoa học tự nhiên và xã hội. Trong một thế giới ngày càng kết nối và va chạm, nhân học càng trở nên quan trọng vì nó giúp mỗi người hiểu được bản thân và lý giải được hành vi của người khác từ góc độ khác biệt văn hóa chứ không phải mâu thuẫn cá nhân. Một khi hiểu được điều đó, sẽ mở ra những cánh cửa để con người đến với nhau. Nhân học, với khả năng giải thích và kết nối các hệ giá trị văn hóa khác nhau, không chỉ giúp chúng ta nhìn lại quá khứ mà còn mở ra hướng đi cho sự đồng thuận, chấp nhận khác biệt và hòa giải trong hiện tại.
Trong cuốn sách mỏng dành cho đại chúng này, tác giả dẫn dắt người đọc đi qua lần lượt các chủ đề: sự hình thành hành vi và chuẩn mực xã hội, giới hạn của các giả thuyết về chủng tộc, cũng như vai trò của khác biệt văn hóa trong việc định hình cách con người nhìn nhận thế giới. Với văn phong mạch lạc, dễ hiểu và giàu tính gợi mở, Kluckhohn khẳng định nhân học là là công cụ thực tiễn giúp hóa giải những xung đột văn hóa và xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau. Đặc biệt, bằng cách diễn giải hành vi con người, ông cho thấy nhân học có thể đóng góp thiết thực thông qua sức mạnh dự đoán trong lĩnh vực chính trị, thái độ xã hội và tâm lý nhóm.
Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã quyết định chuyển ngữ cuốn sách này và giới thiệu đến đông đảo bạn đọc tiếng Việt. Vì không phải là các nhà chuyên môn nên bản dịch chắc chắn có nhiều sai sót, vì vậy chúng tôi mong nhận được những góp ý phê bình.
Nguyễn Thị Hiền (dịch)
Phan Phương Đạt (hiệu đính)
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn sách này được viết cho độc giả phổ thông, không phải cho những chuyên gia hay phê bình. Xin các chuyên gia hãy thông cảm rằng nếu tôi đưa vào đầy đủ tài liệu tham khảo như họ mong muốn, cuốn sách này sẽ dày lên thành nhiều tập. Và nếu tôi thêm vào tất cả những giải thích và điểm cần lưu ý cần thiết cho một nghiên cứu học thuật, thì ngay cả độc giả thông minh cũng sẽ bỏ cuộc trước khi đọc hết chương đầu tiên.
Tôi không tuyên bố rằng mọi nhận định trong sách đều đã được “chứng minh”. Nhân học còn là một ngành học non trẻ, và vẫn còn nhiều việc phải làm, từ thu thập đến sàng lọc dữ liệu. Đây là một đánh giá trung thực và cẩn trọng từ những chứng cứ mà tôi có thể tìm hiểu. Trong một số trường hợp, các học giả khác, với sự trung thực tương đương và có lẽ với phán đoán tốt hơn, đã rút ra những kết luận khác từ cùng một nguồn tài liệu. Nhưng thông thường, tôi cố gắng đi theo quan điểm chung hiện nay của giới chuyên môn. Khi đưa ra ý kiến cá nhân hoặc không theo số đông, cách diễn đạt của tôi sẽ giúp người đọc nhận ra điều đó. Tương tự, khi sử dụng những từ như “một số chuyên gia cho rằng”, “có lẽ”, “có thể”, tôi đã chỉ ra sự lựa chọn tạm thời giữa những phát hiện hoặc diễn giải còn gây tranh cãi. Ngoại trừ một vài nhận định và những dự đoán tương lai của riêng tôi, hầu hết đều có những bằng chứng vững chắc. Những suy đoán của người khác hoặc của tôi đều được chỉ rõ hoặc dễ dàng nhận biết qua ngữ cảnh.
Clyde Kluckhohn
MỤC LỤC
Chương 1 NHỮNG PHONG TỤC KỲ LẠ, MẢNH GỐM VÀ HỘP SỌ 21
Chương 2 NHỮNG PHONG TỤC KỲ LẠ 41
Chương 3 NHỮNG MẢNH GỐM 77
Chương 4 NHỮNG HỘP SỌ 121
Chương 5 CHỦNG TỘC – MỘT HUYỀN THOẠI THỜI HIỆN ĐẠI 151
Chương 6 MÓN QUÀ CỦA NGÔN NGỮ 207
Chương 7 NHÀ NHÂN HỌC TRONG CÔNG VIỆC 237
Chương 8 NHÂN CÁCH TRONG VĂN HÓA 275
Chương 9 NƯỚC MỸ QUA LĂNG KÍNH NHÂN HỌC 319
Chương 10 THẾ GIỚI QUA LĂNG KÍNH NHÂN HỌC 365
Phụ lục 403
Lời cảm ơn 419