Cây anh đào và cây sồi (phần 37)

RỄ SỒI

Chó, mèo và… trẻ con

Có thể gọi các công viên ở London là nơi chốn của những loài chim dạn dĩ. Những cư dân có cánh nơi đây hoàn toàn không tỏ ra sợ hãi con người. Điều này đặc biệt dễ nhận thấy vào các ngày trong tuần khi lượng khách thưa thớt: những chú thiên nga kiêu hãnh lướt mình từ khắp các góc hồ về phía người lạ đang đi ngang qua, trong khi lũ vịt thậm chí có thể lạch bạch bước lên bờ và đi theo.

Ngay khi bạn ngồi xuống ghế đá, lũ chim sẻ sẽ sà tới – tại trung tâm London này, chúng chẳng hề e ngại mà thản nhiên ăn ngay trên tay người. Sóc cũng là những đối thủ đáng gờm trong việc xin ăn: chúng có thể leo tót lên đùi hay thậm chí là vai, nhìn thẳng vào mắt bạn với vẻ nài nỉ đầy tinh quái. Không chỉ riêng chim chóc trong công viên, mà mọi loài động vật hoang dã ở Anh đều coi con người là bạn bè và ân nhân thay vì kẻ thù. Một chú mèo xám lông xù nhà hàng xóm, sau khi leo lên bậu cửa sổ bếp nhà tôi, đã tỏ ra vô cùng ngỡ ngàng khi không nhận được món ngon nào mà lại bị xua đuổi. Ngay cả một chú chó lạ gặp trong rừng cũng sẽ vẫy đuôi chào thay vì sủa vang.

Nếu quả thực cỏ ở Anh xanh hơn bất cứ nơi nào khác, thì chắc chắn rằng không nơi nào trên thế giới chó và mèo lại được yêu chiều nồng nhiệt đến thế như ở Anh, mà người Anh vốn nổi tiếng là ít bộc lộ cảm xúc. Với họ, chó hay mèo là thành viên yêu quý trong gia đình, là người bạn trung thành nhất, và – đôi khi người ta không thể không nghĩ rằng – là người bạn đồng hành dễ chịu nhất. Khi một người dân London gọi chú chó sục của mình là thành viên yêu quý trong gia đình, đó không chỉ là cách nói ví von. Sinh viên Pháp và Đức thường ngạc nhiên khi thấy rằng trong các gia đình Anh, thú cưng rõ ràng có vị thế cao hơn cả trẻ em.

Điều này thể hiện rõ cả về mặt tinh thần, khi chó hoặc mèo thường trở thành tâm điểm được cả nhà chăm chút, và về mặt vật chất. Một cô gái trẻ từ lục địa châu Âu đến ở cùng một gia đình tại London để trau dồi tiếng Anh có thể sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng, trong khi chú chó bulldog hay chó setter được phục vụ bữa tối thịnh soạn với nhiều thịt, thì lũ trẻ – vốn đã ăn trưa ở trường – lại chỉ có một lát bánh mì, ít đậu đóng hộp và một tách trà vào buổi tối.

Các quan chức Úc cảm thấy khó hiểu khi thấy các gia đình người Anh di cư sẵn sàng bỏ ra nhiều công sức và chi phí để lo thủ tục kiểm dịch cho chó mèo của họ, thay vì đơn giản là để chúng lại Anh và mua thú cưng mới khi sang Úc. Tuy nhiên, ý nghĩ đó thậm chí chưa bao giờ xuất hiện trong đầu người Anh. Với họ, làm vậy chẳng khác nào bỏ rơi chính đứa con của mình. Để tránh cán phải một chú chó con hay mèo con, một tài xế ở London sẽ không ngần ngại đánh lái đâm vào cột đèn hoặc, bất chấp tính mạng, lao xe vào tường. Khi đi dạo vào ngày mưa, người Anh thường đưa ô ra xa thay vì che trên đầu mình, chỉ để che chắn cho chú chó khỏi bị ướt.

Thật khó để một người không thích thú cưng – hoặc tệ hơn là bị chúng ghét – có thể chiếm được cảm tình của người Anh. Điều ngược lại cũng đúng. Nếu bạn đến thăm nhà ai đó và một chú chó khổng lồ vui mừng chồm lên, đặt hai chân trước lên vai bạn, thì chẳng nên buồn phiền về bộ âu phục bị lấm bẩn. Người Anh tin chắc rằng loài chó có khả năng nhận biết chính xác tính cách của một người ngay lần đầu gặp gỡ. Bạn có thể gần như chắc chắn rằng chủ nhân cũng sẽ có những thiện cảm hay ác cảm giống chú chó của mình. Nếu chú chó đó đột nhiên tỏ thái độ thù địch với một vị khách, cả gia đình sẽ bắt đầu nhìn người đó với ánh mắt nghi ngại.

Bất kỳ ai đến thăm nước Anh lần đầu cũng sẽ nhận thấy trẻ em ở đây cư xử vô cùng lễ phép, trong khi chó mèo lại hành xử một cách tự do, thậm chí là ngang nhiên. Và dù muốn hay không, người ta cũng buộc phải chấp nhận điều này. Dưới đây là một câu chuyện minh họa do một phát thanh viên người Nhật làm việc tại BBC chia sẻ. Sau khi mời các đồng nghiệp đến dự tiệc tân gia, anh ngạc nhiên khi thấy thái độ của họ đối với mình trở nên lạnh nhạt hơn. Lý do, mãi về sau mới được hé lộ, hoàn toàn bất ngờ: hóa ra khi nhường ghế cho khách, người đàn ông Nhật này đã thản nhiên xua đuổi một con mèo đang ngủ trên chiếc ghế bành. (Nếu ở nhà người khác thì hành động như vậy bị coi là một điều cấm kỵ không thể dung thứ.)

Khi trò chuyện với khán giả Anh, tôi thường kể lại những gì gia đình mình đã phải trải qua trong cuộc bao vây Leningrad. Khi mọi người lắng nghe những câu chuyện về những chiếc đèn dầu tự chế và vỏ đạn pháo, về khẩu phần bánh mì 125 gam và những thi thể được chở trên xe trượt tuyết của trẻ em, thế nào cũng có người hỏi: “Lũ chó mèo đã xoay xở thế nào với cơn đói, đặc biệt là những con bị bỏ rơi không chủ? Liệu có phiếu khẩu phần thức ăn cho chúng không?” Việc kể cho người Anh nghe chuyện anh em tôi từng dùng lưỡi câu để bắt mèo hoang, mang chúng đến bệnh viện gần đó để cho chết êm ái, rồi nấu súp từ xác mèo đã lột da, là điều tôi chỉ có thể nói kèm theo lời giải thích rằng làm vậy là để giúp những con vật vô chủ thoát khỏi nỗi đau đớn và cái chết khổ sở chắc chắn sẽ xảy ra.

Sau này, khi ở London, tôi đã đọc một cuốn sách hóm hỉnh, sâu sắc và mang tinh thần thiện chí về người Anh có tựa đề “Người Anh có phải là con người không?”. Tác giả cuốn sách, ông G. Renier người Hà Lan, mô tả một thí nghiệm mà ông thực hiện, trong đó ông đặt cùng một câu hỏi giả định cho nhiều nhóm người Anh khác nhau. Một người lữ hành tình cờ gặp một người ăn mày và con chó của ông ta, cả hai đều đang chết đói. Trong túi anh ta chỉ còn duy nhất một mẩu bánh mì, số lượng không đủ để chia cho cả hai. Anh ta nên đưa nó cho ai: người ăn mày hay con chó? Một cư dân lục địa châu Âu gần như chắc chắn sẽ cho người ăn xin. Tuy nhiên, thật khó để nói một người Anh sẽ hành xử ra sao trong trường hợp này. Renier chờ đợi những ý kiến ​​phản đối rằng mình định kiến, nhưng những người nghe ông lại tỏ ra đồng lòng một cách đáng ngạc nhiên: “Chẳng có gì phải bàn cãi cả! Đương nhiên là phải lo cho con chó trước rồi! Suy cho cùng, một sinh vật không biết nói thì đâu thể tự lên tiếng bảo vệ chính mình!”

Vị mục sư của một nhà thờ gần đó từng phàn nàn với tôi về giáo dân của mình: khoản quyên góp vào ngày Chủ nhật dành cho chó mèo vô gia chủ lúc nào cũng thu được số tiền lớn hơn nhiều so với khoản quyên góp cho trẻ em nghèo khổ. Phải thừa nhận là tôi đã hoài nghi, liệu điều này có phải là chuyện thường thấy? Tôi quyết định tìm hiểu vấn đề này. Quá trình nghiên cứu lịch sử đã hé lộ hai mốc thời gian đáng chú ý:

Năm 1824: thành lập Hiệp hội Hoàng gia về Phòng chống Ngược đãi Động vật (RSPCA).

Năm 1884: thành lập Hiệp hội Quốc gia về Phòng chống Ngược đãi Trẻ em (NSPCC).

Như vậy, hiệp hội thứ hai ra đời sau hiệp hội thứ nhất tới sáu mươi năm, lại còn mang cái tên kém danh giá hơn (ở Anh, bất cứ thứ gì mang danh “Hoàng gia” đều được coi trọng hơn nhiều so với những gì mang danh “Quốc gia”). Còn sự cần thiết của một tổ chức như vậy thì được thể hiện trong Báo cáo của Ủy ban về Lao động Trẻ em năm 1842.

Bàng hoàng trước bản báo cáo, công chúng Anh lần đầu tiên nhận ra cái giá mà đất nước phải trả để trở thành “công xưởng của thế giới”; họ nghe tin về những đứa trẻ mới bảy tuổi phải bò bằng cả tay và chân suốt mười hai tiếng đồng hồ trong những hầm mỏ tối tăm. Hiệp hội địa phương bảo vệ trẻ em khỏi sự ngược đãi đầu tiên được thành lập tại Liverpool vào năm 1882—ngay tại cơ sở vốn trước đó là nơi trú ẩn cho chó hoang.

Ngày nay, Hiệp hội Quốc gia về Phòng chống Ngược đãi Trẻ em vẫn còn rất nhiều việc phải làm: mỗi năm, họ điều tra hàng chục nghìn vụ việc. Tuy nhiên, Hiệp hội Hoàng gia về Phòng chống Ngược đãi Động vật (RSPCA) lại sở hữu nguồn lực hùng hậu hơn nhiều: ba nghìn chi nhánh địa phương, hơn một trăm phòng khám cùng các bệnh viện thú y riêng, và quan trọng nhất là một đội ngũ thanh tra viên mà các báo cáo của họ có thể dễ dàng dẫn đến việc khởi tố hoặc thậm chí là phạt tù.

Các biện pháp nhằm giải quyết những hình thức ngược đãi động vật khác nhau thường là chủ đề được ưu tiên trong các dự luật do nghị sĩ tự đề xuất (private member’s bills) tại Nghị viện. Mỗi khi các hoạt động chính trị tạm lắng xuống, báo chí lại khơi dậy những cuộc tranh luận về việc làm thế nào để chấm dứt nạn săn bắt cá voi, cứu những chú cừu non vốn bị giết lấy lông làm áo khỏi lò mổ, hay thuyết phục du khách Anh tẩy chay các trận đấu bò tót ở Tây Ban Nha. Khi các nhà khoa học Liên Xô đưa chó Laika vào vũ trụ trên một trong những con tàu Sputnik đời đầu dù biết rõ nó sẽ không thể trở về Trái Đất, thì sự kiện này đã châm ngòi cho một làn sóng phản đối dữ dội tại Anh.

Trong mắt người Anh, nhiều quốc gia, đặc biệt là Ý, thường quá tàn nhẫn với động vật nhưng lại quá nuông chiều trẻ em. Ngược lại, người Ý thường chỉ trích người Anh vì chính những điều trái ngược: họ quá cưng chiều động vật nhưng lại quá khắt khe với con cái. Dù sao đi nữa, người Anh vẫn phẫn nộ trước hành vi ngược đãi động vật hơn nhiều so với việc ngược đãi trẻ em. Vấn đề này hoàn toàn không phải là chuyện mới mẻ.

Dickens là một trong những người đầu tiên thu hút sự chú ý vào vấn đề này qua cuốn tiểu thuyết David Copperfield của ông. Tất nhiên, nhiều thứ đã thay đổi kể từ thời của Dickens. Việc sử dụng lao động trẻ em đã bị pháp luật cấm. Tuy nhiên, không quá lời khi nói rằng người Anh ít cảm thấy xấu hổ hơn các quốc gia khác trước những vụ ngược đãi trẻ em. Còn về hình phạt thể xác trong trường học, thì nó vẫn chưa bị bãi bỏ. Sâu thẳm bên trong, người Anh tin rằng cha mẹ nên nghiêm khắc thái quá còn hơn là quá dễ dãi—theo quan điểm “yêu cho roi cho vọt” (một câu tục ngữ phổ biến). Tại Anh, người ta thường quan niệm rằng việc phạt con cái không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của cha mẹ. Trong tư duy của người Anh, nuông chiều đồng nghĩa với làm hư trẻ; và những ví dụ điển hình nhất về những đứa trẻ hư hỏng như vậy, tất nhiên, thường là con cái của người nước ngoài.

Tôi chỉ cần liếc nhìn từ xa một gia đình đang dạo bước trong Công viên Hyde là có thể nhận ra ngay. Nếu một đứa trẻ đang ngồi trên vai bố hoặc bám chặt lấy váy mẹ; nếu đứa trẻ đó đang mè nheo, đòi hỏi, tóm lại là muốn gây chú ý, hoặc nếu cha mẹ liên tục nói chuyện với con, khi thì giục giã, khi thì quát mắng ngăn lại, thì tôi dám chắc chắn một trăm phần trăm rằng đó không phải là gia đình người Anh.

Tại London, nơi có dân cư đa quốc tịch, sự tương phản này càng trở nên rõ nét. Người Anh tin rằng việc thể hiện tình yêu thương và sự âu yếm thái quá của cha mẹ sẽ gây hại cho tính cách của trẻ. Truyền thống của họ là đối xử với con cái một cách chừng mực, thậm chí có phần lạnh lùng. Điều này buộc các bậc cha mẹ phải kiềm chế cảm xúc của mình, trong khi bọn trẻ, dù muốn hay không, cũng phải thích nghi với thực tế đó. Thậm chí, người ta còn có thói quen đặt xe nôi của trẻ ở vị trí sao cho người mẹ không nghe thấy tiếng con khóc, qua đó tránh được sự thôi thúc muốn chạy lại dỗ dành đứa trẻ.

Có một sân chơi ở Holland Park, cách nơi tôi sống không xa. Trẻ em có thể đi dọc theo một thân cây nằm ngang, leo lên dây thừng, trèo lên hệ thống dây chằng của cột buồm tàu, hay trượt xuống một máng trượt dốc đứng. Ngay lối vào sân chơi có đặt một tấm biển mang dòng chữ có thể khiến một người dân Moscow phải ngạc nhiên: “Người lớn không được vào.” Dòng chữ này rõ ràng nhắm đến người nước ngoài, khá đông đúc trong khu vực này. Chính họ là những người cần được nhắc nhở rằng bản năng tự nhiên của trẻ nhỏ thích leo trèo, chạy nhảy và trượt sẽ giúp nuôi dưỡng tính độc lập. Nếu một cậu bé chẳng may ngã và bị vài vết bầm tím, cậu sẽ học được một bài học quý giá cho tương lai.

Trong khi các bà mẹ ở nước Nga đôi khi hay can thiệp thái quá vào hành động của con cái, thì các bà mẹ Anh lại tránh can thiệp vào hành vi của trẻ, ngay cả khi tình huống có vẻ đòi hỏi điều đó. Tôi nhớ có lần bắt gặp một người mẹ trẻ đang ngồi đọc sách trên chiếc ghế băng gần đó. Cậu con trai lớn của cô, khoảng bốn tuổi, đang đi đi lại lại trong vũng nước với đôi ủng cao su. Cậu bé nghịch nước mạnh đến mức nước bắn tung tóe, không chỉ dính vào áo khoác của mình mà còn văng cả sang người đứa em trai một tuổi, vốn được mẹ bế ra khỏi xe đẩy và đang đứng cạnh ghế. Khi đứa em, vốn chưa biết đi vững, cảm thấy mệt mỏi vì cứ phải loay hoay bước sang trái rồi sang phải trong lúc bám vào ghế, bé liền ngồi bệt xuống nền đất ẩm ướt, trát bùn khắp người rồi bò bằng cả tay và chân vào ngay giữa vũng nước. Tôi nín thở theo dõi cảnh tượng đó, và hẳn là vẻ mặt tôi lộ rõ ​​sự kinh ngạc, bởi người phụ nữ kia đã ngước mắt lên khỏi cuốn tiểu thuyết trinh thám của Agatha Christie, mỉm cười với tôi và nói:

– Thật kỳ lạ là bọn trẻ lúc nào cũng thích bò vào giữa vũng nước…

Sau đó, cô bình thản tiếp tục đọc sách. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng thái độ này đối với trẻ em không có nghĩa là chúng lớn lên trong một môi trường hoàn toàn buông lỏng hay nuông chiều. Trái lại, cha mẹ vẫn áp dụng kỷ luật ngay từ khi trẻ còn rất nhỏ. Dù vậy, kỷ luật này nhắm thẳng vào những đặc điểm và khuynh hướng cụ thể cần phải được ngăn chặn một cách dứt khoát. Nếu một đứa trẻ nảy sinh ý định hành hạ chó mèo, bắt nạt trẻ nhỏ hơn hoặc phá hoại tài sản của người khác, chúng sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc, thậm chí tàn nhẫn. Tuy nhiên, trong phạm vi những điều cấm kỵ đã được xác định rõ ràng, trẻ em được tự do, không bị giám sát vụn vặt hay chịu sự can thiệp từ bên ngoài. Điều này không chỉ rèn luyện tính độc lập mà còn tập cho trẻ thói quen chịu trách nhiệm về hành động của mình. Ngay khi mới chập chững biết đi, trẻ em Anh đã được nghe một câu nói rất phổ biến ở đất nước này: “Hãy tự trấn tĩnh lại!” Ngay từ nhỏ, trẻ đã không được khuyến khích bám víu lấy cha mẹ để tìm kiếm sự an ủi mỗi khi đau đớn hay tổn thương. Trẻ được dạy rằng việc rơi nước mắt là thiếu bản lĩnh—thậm chí là điều đáng xấu hổ. Một đứa trẻ nhỏ nếu khóc sau khi ngã sẽ phải đối mặt với sự chế giễu công khai từ bạn bè đồng trang lứa và sự không hài lòng thầm lặng từ cha mẹ. Nếu một đứa trẻ ngã xe đạp, chẳng ai vội vã chạy lại hay tỏ ra hốt hoảng trước vết trầy xước rướm máu ở đầu gối. Người ta kỳ vọng trẻ phải tự đứng dậy, chỉnh đốn lại bản thân và—quan trọng nhất—là tiếp tục hành trình của mình.

Được khuyến khích sống tự lập, trẻ em Anh dần chấp nhận rằng khi đói, mệt, đau hay buồn bã, chúng không nên than vãn hay làm phiền cha mẹ bằng những chuyện vặt vãnh. Trẻ em Anh không mong đợi ai đó phải xúm lại dỗ dành, chiều chuộng những ý thích nhất thời hay bao bọc chúng bằng sự cưng chiều thái quá. Chúng hiểu rằng mình đang sống trong thế giới của người lớn, nơi chúng phải biết đúng vị trí của mình—và vị trí đó chắc chắn không phải là ngồi trong lòng cha hay mẹ.

Bất kể thu nhập gia đình ra sao, trẻ em luôn ăn mặc rất giản dị, các em nhỏ thường mặc lại quần áo cũ vốn được mua cho anh chị lớn hơn. Đúng tám giờ tối, không chỉ trẻ nhỏ mà cả những đứa trẻ đang tuổi đi học cũng đều phải đi ngủ—một quy định bắt buộc và không có ngoại lệ—để không làm phiền cha mẹ, những người có thể còn có công việc hoặc kế hoạch riêng vào buổi tối. Việc cho trẻ dưới năm tuổi ngồi cùng bàn ăn gia đình là điều hoàn toàn không phổ biến—ngay cả khi nhà không có khách.

Có lần, vợ chồng tôi ở lại miền Bắc nước Anh cùng một gia đình giáo viên dạy tiếng Nga. Cặp đôi này từng hoàn thành kỳ thực tập tại Moscow, khá am hiểu lối sống của chúng tôi và đang dạy cậu con trai sáu tuổi nói tiếng Nga.

– Lại đây nào Tony. Hãy kể cho chúng ta nghe cháu cư xử và ăn uống như thế nào nhé, – vợ tôi nói với cậu bé.

Câu nói vốn rất quen thuộc với chúng tôi ấy lại khiến gia chủ bật cười sảng khoái.

– Chúng tôi luôn ngạc nhiên, thậm chí thấy buồn cười, – họ nói, – khi thấy trong suy nghĩ của các bậc phụ huynh Liên Xô, ăn uống đầy đủ đồng nghĩa với việc ngoan ngoãn. Nếu một đứa trẻ đã biết tự cầm thìa, hiếm khi nào một người mẹ Anh lại bận tâm đến chuyện con ăn bao nhiêu. Việc ăn như thế nào và ăn bao nhiêu là chuyện riêng của đứa trẻ. Nhất là khi trẻ con thường ăn hết sạch những gì được dọn ra; suy cho cùng, nguy cơ trẻ bị thiếu ăn vẫn cao hơn nhiều so với nguy cơ ăn quá nhiều…

Quả thực, người Anh thường coi cảm giác đói bụng là một công cụ giáo dục—một phương thức hiệu quả để rèn luyện ý chí và tôi luyện nên một tính cách kiên cường, không nao núng trước gian khổ hay nghịch cảnh. Người ta cho rằng một người sở hữu những phẩm chất như vậy thường có dáng người mảnh khảnh và săn chắc. Đôi khi, dường như nỗi lo lớn nhất của các bậc cha mẹ Anh lại là việc con cái ăn quá nhiều.

Khi một người mẹ Ý muốn khoe con, bà sẽ tự hào chỉ vào những cánh tay và đôi chân mũm mĩm của bé. Thế nhưng, khi nhìn thấy những hình ảnh đó, một du khách người Anh khó lòng giấu nổi vẻ nhăn nhó không hài lòng. Ở đây, một đứa trẻ mũm mĩm thường bị coi là ăn quá nhiều và không khỏe mạnh. Và những đứa trẻ thừa cân thực sự phải chịu cảnh khốn khổ trong hệ thống trường học tại Anh. Chúng không chỉ bị trêu chọc mà còn bị bắt nạt một cách tàn nhẫn.

Ở London, hiếm khi bạn bắt gặp một đứa trẻ thực sự mũm mĩm, chứ đừng nói đến béo phì; và nếu có trường hợp ngoại lệ, thì thường cũng không phải là con cái trong các gia đình người Anh. Một nghịch lý khác cũng rất đáng để suy ngẫm. Người Anh rất hảo ngọt, và đáng chú ý là các quảng cáo sô-cô-la hay kẹo không nhắm vào trẻ em mà lại tập trung chính vào người lớn. Để việc chiều chuộng sở thích này không làm hỏng vóc dáng, cả nam và nữ giới đều thường xuyên được khuyến khích ăn nhiều rau quả, đồng thời cắt giảm bánh mì và các sản phẩm từ bột mì trong khẩu phần ăn. Tuy nhiên, khi nói đến trẻ em—những đứa trẻ cũng được kỳ vọng phải có thân hình mảnh mai, thon gọn—thì vitamin và nước ép trái cây lại bị lãng quên, thay vào đó, người ta chú trọng đến những món ăn “đơn giản” mà thành phần chủ yếu là bột mì.

Ở xứ sở của Oliver Twist, trẻ em hoàn toàn không được nuông chiều bằng các món quà vặt. Các quảng cáo trên truyền hình thường quảng bá thức ăn đóng hộp cho chó mèo hơn là kem hay kẹo mút. Trong khi chi tiêu cho thú cưng được coi là khoản mục bất khả xâm phạm trong ngân sách gia đình, thì việc cắt xén khẩu phần ăn của trẻ lại được xem là chuyện hoàn toàn bình thường. Học sinh ở Anh thường tan học và về nhà lúc 4:30 chiều. Với nhiều em, bữa ăn nóng sốt duy nhất trong ngày lại chính là bữa trưa tại căng tin trường học. Bữa sáng kiểu Anh nổi tiếng với cháo yến mạch, trứng và thịt xông khói giờ đây chỉ còn xuất hiện trong các gia đình vào dịp cuối tuần. Các bà mẹ thường đinh ninh rằng con mình đang có một bữa trưa đủ chất tại trường, nhưng không hiếm trường hợp trẻ vị thành niên giữ lại số tiền ăn trưa đó để tiêu xài cá nhân.

Tóm lại, quan điểm phổ biến ở đây là cơn đói không chỉ giúp rèn luyện nhân cách mà còn có lợi cho sức khỏe của trẻ. Một đứa trẻ mũm mĩm thường bị coi là đứa trẻ được nuông chiều thái quá, trong khi thân hình mảnh khảnh lại được xem là dấu hiệu của sức khỏe tốt và sự giáo dục bài bản. Những đứa trẻ hay đòi hỏi sự chú ý, liên tục đưa ra yêu cầu hay than phiền là điều hiếm thấy trong các gia đình Anh. Trẻ em ở đây quen với việc tự xoay xở và hạn chế tối đa việc làm phiền hay gây chú ý với cha mẹ. Khi còn ở nhà, trẻ không nên gây ra tiếng động; còn khi đã đến tuổi đi học, lý tưởng nhất là chúng cũng không nên xuất hiện trước mắt người lớn.

Đây là nét đặc trưng trong lối sống của người Anh. Sự can thiệp trực tiếp của cha mẹ vào việc nuôi dạy con cái ở độ tuổi đi học—và thậm chí là cả sinh viên đại học—ít phổ biến hơn nhiều so với các quốc gia khác. Truyền thống lâu đời về việc cho con cái rời nhà đi học xa không bị coi là biểu hiện của sự hà khắc từ phía cha mẹ, mà thực chất xuất phát từ nỗi lo sợ rằng trái tim cha mẹ có thể sẽ trở nên quá mềm yếu. Người Anh tin rằng trẻ em cư xử ngoan ngoãn hơn khi ở giữa những người lạ so với khi ở nhà cùng cha mẹ, và chúng cũng học cách tự lập nhanh hơn. Đối với các bậc cha mẹ khá giả, mối quan tâm hàng đầu là tìm được một suất học cho con trai tại một “ngôi trường đúng nghĩa”—tức là trường nội trú tư thục. Việc này đòi hỏi chi phí, các mối quan hệ và công sức đáng kể. Tuy nhiên, một khi con cái đã nhập học thành công, cha mẹ coi như đã “mua” được sự giải thoát khỏi những trách nhiệm nuôi dạy con cái sau đó.

Dẫu vậy, cái giá phải trả cho sự tự do này tất yếu là sự xa cách với chính con cái mình. Do dành phần lớn thời gian trong năm chỉ để giao du với bạn bè đồng trang lứa và các giám thị, đồng thời thiếu vắng sự tương tác thường xuyên với cha mẹ, trẻ em bắt đầu cảm thấy như những người xa lạ ngay trong chính ngôi nhà của mình. Khi trở về nhà vào các kỳ nghỉ, chúng đối xử với cha mẹ và anh chị em một cách lễ phép, lịch sự, nhưng thường cảm thấy không gian gia đình thật ngột ngạt và cảm thấy nhẹ nhõm khi được quay lại trường nội trú. Trong các gia đình thuộc tầng lớp lao động—nơi mà việc cho con theo học trường tư là điều quá sức chi trả—trẻ em lớn lên với sự gắn bó gần gũi hơn với cha mẹ. Tuy nhiên, ngay cả ở đó, chúng vẫn cảm thấy mình đang sống trong thế giới của người lớn và không phải là trung tâm của sự chú ý trong gia đình.

Như đã đề cập trước đó, học sinh ở Anh thường trở về nhà lúc 4:30 chiều. Ngày học kéo dài này—hay còn gọi là “chương trình sau giờ học”—tồn tại chủ yếu là để tạo thuận lợi cho các bậc phụ huynh. Cũng vì lý do tương tự, các trường học ở Anh không có kỳ nghỉ hè dài ngày như thường thấy ở Nga. Đơn giản là vì trẻ em chẳng biết đi đâu, bởi lẽ ở nhiều gia đình, cả cha và mẹ đều đi làm. Hơn nữa, các khái niệm như trại hè hay nhà nghỉ dưỡng ở vùng nông thôn là những điều xa lạ đối với trẻ em ở đây, cũng giống như nhà nghỉ dưỡng hay khu điều dưỡng là những khái niệm xa lạ với người lớn vậy. Một gia đình thuộc tầng lớp lao động thường chỉ có kỳ nghỉ kéo dài hai tuần, thời gian này họ dành để thuê phòng ở một nơi nào đó ven biển hoặc vùng nông thôn.

Cuối cùng, có một đặc điểm đáng chú ý khác trong lối sống của người Anh. Trẻ em ở đây thường rời khỏi nhà cha mẹ ngay cả trước khi kết hôn. Vốn là những người yêu thích các loài chim, người Anh đã có một câu nói về vấn đề này: “Chim non cần phải bị đẩy ra khỏi tổ để học cách bay nhanh hơn.” Bất kể thu nhập của cha mẹ ra sao hay có nhu cầu thực tế nào về việc chuyển đi hay không, các thanh niên nam nữ thường tự lập và bắt đầu cuộc sống riêng sau khi hoàn thành chương trình trung học—tức là vào năm 16 tuổi. Phong tục ba thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà—vốn là nét đặc trưng của các gia đình gia trưởng quy mô lớn tại Nhật Bản—đối với người Anh lại là điều không thể tưởng tượng nổi và bị coi là sự xâm phạm quyền riêng tư cá nhân không thể chấp nhận được. Thế nhưng, chính những thanh thiếu niên—những người được cho là không thể sống chung với các thành viên khác trong gia đình—lại chẳng hề gặp vấn đề gì khi sống trong bầu không khí gò bó như trại lính tại các trường nội trú, và thậm chí còn hòa hợp rất tốt với hai, ba người bạn cùng phòng sau khi rời khỏi nhà.

“Một vùng đất nơi chó không sủa và trẻ con không khóc” – đó là cách người ta đôi khi muốn mô tả nước Anh dựa trên những ấn tượng ban đầu. Về sau, người ta mới nhận ra rằng đây là những biểu hiện tương đồng nhưng bắt nguồn từ những nguyên nhân khác nhau. Đừng vội cho rằng chó ở đây được huấn luyện kỹ đến mức không sủa, hay trẻ con được nuông chiều đến mức chẳng có lý do gì để khóc. Thực tế lại hoàn toàn trái ngược.

Tuy nhiên, cũng đáng để tự hỏi liệu có mối liên hệ nào giữa hai nét đặc trưng trong tính cách người Anh: thái độ của họ đối với thú cưng và thái độ đối với trẻ em. Tình yêu thái quá mà họ dành cho những “người bạn không nói” có lẽ bắt nguồn từ cùng một lý do khiến những người không có con lại dành niềm đam mê đặc biệt cho chó và mèo. Khi buộc phải kìm nén hoặc che giấu những biểu hiện yêu thương, tình cảm dành cho nhau, cha mẹ và con cái tất yếu sẽ biến thú cưng thành nơi gửi gắm và giải tỏa cảm xúc.

Có một quan niệm sai lầm cho rằng người Anh tử tế và giàu lòng trắc ẩn hơn các dân tộc khác. Nhiều người Anh – đặc biệt là phụ nữ – khi tin vào điều này thường chỉ nghĩ đến ngựa, chó và mèo, chứ không phải con người, và chắc chắn không phải là trẻ em. Sự tàn nhẫn từ lâu đã là – và có lẽ vẫn là – một nét tính cách cố hữu của người Anh.

J.B. Priestley (Anh). Người Anh. 1973

Để hiểu về người Anh, có lẽ làm nhà động vật học sẽ tốt hơn là làm nhà tâm lý học… Khi giáo viên quất roi mây gãy cả trên lưng học sinh, chẳng ai lên tiếng cả. Nhưng nếu bạn đánh một con chó đã cắn mình, bạn có thể phải ngồi tù.

Pierre Daninos (Pháp). Thiếu tá Thompson và tôi. 1957

Tôi luôn thấy lạ lùng khi người Anh – những người luôn không ngớt lời ca ngợi các trường tư thục, cao đẳng và đại học của mình – lại chẳng bao giờ bày tỏ lòng biết ơn một cách chính thức đối với cha mẹ họ.

Nirad Chaudhuri (Ấn Độ). Hành trình đến nước Anh. 1959

Xem tiếp phần sau: Những cái cây lẻ loi

1 thought on “Cây anh đào và cây sồi (phần 37)

  1. Pingback: Cây anh đào và cây sồi (phần 36) - Phan Phuong Dat

Leave a Reply