Category Archives: Tâm lý học

Các bài liên quan đến tâm lý học, hỗ trợ tâm lý

Phân biệt: thành niên, thanh niên, vị thành niên

Người ta chia các nhóm tuổi từ nhiều góc độ khác nhau: góc độ pháp lý, văn hóa xã hội, tâm lý, v.v. Các cách chia này có sự chồng lấn và không phải lúc nào cũng có ranh giới rõ ràng. Dưới đây là một số nội dung liên quan (sẽ được cập nhật), để các bố mẹ biết để phân biệt.

Theo luật pháp Việt Nam

  • Trẻ em: dưới 16 tuổi (theo Luật Trẻ em)
  • Thanh niên: từ đủ 16 đến 30 tuổi (theo Luật Thanh niên)
  • Thành niên: từ đủ 18 tuổi trở lên (theo Luật Dân sự). Người thành niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Các khái niệm văn hóa xã hội

  • Vị thành niên (còn gọi là thanh thiếu niên, adolescent, teenage): độ tuổi 10-19 tuổi (WHO quy định). Khác với Thành niên là khái niệm chặt chẽ theo luật Dân sự, khái niệm Vị thành niên không chặt chẽ.
  • Thiếu niên: từ 9/10 tuổi đến dưới 16
  • Nhi đồng: từ 5/6 tuổi đến 9/10
  • Thiếu nhi là thiếu niên + nhi đồng. Khái niệm Thiếu nhi nằm trong khái niệm Trẻ em trong Luật Trẻ em (dưới 16)

Các giai đoạn

Sơ sinh (infant) – Tuổi thơ (childhood) – Thanh thiếu niên, tuổi trẻ (adolescence, youth) – Người lớn (adulthood)

Phân biệt: cảm giác, cảm thấy, tri giác, nhận thức

Một số trong các từ này được dùng để chỉ các khái niệm khác nhau, do đó cần cố gắng phân biệt, nhất là khi đả động đến thuật ngữ tâm lý học. Để sắp xếp chúng vào trật tự, ta có thể bắt đầu bằng các động từ tiếng Anh.

Feel và Sense

Đều được dịch là cảm nhận, cảm giác, cảm thấy. Feel khác Sense ở chỗ:

  • Sense là cảm nhận bằng các giác quan, đôi khi ám chỉ các giác quan thứ sáu (với nghĩa đánh hơi, “ngửi” thấy gì đó mơ hồ)
  • Feel là cảm thấy bằng tâm trí, ví dụ cảm thấy vui, buồn.

Tiếng Trung đều được dịch là 感觉 (cảm giác), tiếng Nga là чувствовать ощущать. Hai từ tiếng Anh này có thể cùng dịch ra một từ tiếng Việt, không cần phân biệt.

Sense và Perceive

Sense là cảm nhận bằng một giác quan cụ thể, và do đó chỉ cảm nhận được một phần của sự vật. Perceive là cảm nhận sự vật một cách toàn vẹn, thông qua một hoặc vài giác quan.

Ví dụ bạn sense thấy mùi cafe, còn perceive tách cà phê thông qua mùi, hình ảnh, cảm giác nóng khi chạm vào. Bạn cũng có thể perceive được tách cà phê chỉ bằng khứu giác, hình dung ra các yếu tố còn lại từ kinh nghiệm.

Perceive tiếng Trung là 感知 (cảm tri), tiếng Nga là воспринимать. Tiếng Việt, perceive thường được dịch là nhận thức, lĩnh hội. Từ điển tâm lý và wikipedia tiếng Việt thì dịch là tri giác, tuy nhiên từ “tri giác” có lẽ không phù hợp là động từ.

Vì vậy, đề xuất dịch perceivecảm tri, và perception là tri giác. Từ “nhận thức” tuy hay được sử dụng, nhưng thật ra nên dùng để chỉ khái niệm khác.

Perceive và Cognize (Perception và Cognition)

Từ cognition mới nên được dịch là nhận thức. Cognition khác Perception ở chỗ, cognition là quá trình tư duy về sự vật, bao gồm nhiều thao tác mà Perception chỉ là một trong số đó: trí nhớ, liên tưởng, nhận dạng kiểu hình (pattern recognition), v.v. Kết quả của Cognition là một nhận thức ổn định lâu dài.

Cognition tiếng Trung là 认识 (nhận thức), tiếng Nga là познание.

Kết luận

Feel, Sense dịch là cảm giác, cảm thấy, cảm nhận.
Perceive dịch là cảm tri. Perception là tri giác. Khi sử dụng nên đi kèm từ tiếng Anh.
Cognition là nhận thức / sự nhận thức.


Dạy Văn hóa Doanh nghiệp là dạy gì?

Văn hóa của một tổ chức cũng giống như tính cách tâm lý của một người. Nếu không hiểu về tâm lý học mà cứ tìm cách học theo thần tượng này khác thì không ăn thua. Nếu ko hiểu về VHDN (văn hóa doanh nghiệp, hay văn hóa của tổ chức nói chung) mà chỉ nghe kể chuyện về các công ty này khác để học theo cũng ko hiệu quả.

Cách tốt nhất để dạy VHDN là hiểu về cấu trúc và nguyên lý của nó. Sau đó, bạn có thể chiêm nghiệm và áp dụng vào một trường hợp cụ thể. Cũng như nếu hiểu về tâm lý học, bạn sẽ giúp bản thân và mọi người hiệu quả hơn.

Continue reading

Những phân ngành chính của Tâm lý học

Các nhà tâm lý học nghiên cứu tâm trí và hành vi con người như thế nào? Tâm lý học là một lĩnh vực rất lớn, và khó mà diễn tả được độ rộng và sâu của nó. Vì vậy, nhiều phân ngành (branch) chuyên biệt đã được hình thành, nhằm giải quyết các chủ đề cụ thể trong lĩnh vực nghiên cứu về tâm trí, não bộ và hành vi.

Continue reading

Các hướng nghiên cứu của tâm lý học hiện đại

Có nhiều cách tư duy khác nhau về hành vi của con người. Các nhà tâm lý học sử dụng nhiều góc độ tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu cách mọi người suy nghĩ, cảm nhận và hành xử.

Một số nhà nghiên cứu tập trung vào một trường phái tư tưởng tư duy cụ thể, chẳng hạn như từ góc độ sinh học, trong khi những nhà nghiên cứu khác có cách tiếp cận đa chiều (eclectic – chiết trung) hơn, kết hợp nhiều quan điểm khác nhau. Không có một góc độ nào là “tốt hơn”, đơn giản là mỗi góc độ nghiên cứu nhấn mạnh vào những khía cạnh khác nhau của hành vi của con người.

Continue reading

Phân biệt: ý thức, tiền ý thức, tiềm thức và vô thức

Bài này giới thiệu và phân biệt các khái niệm trên, nằm trong mô hình topo về tâm trí của Freud.

Các khái niệm này đều đã tồn tại trước Freud, nhưng Freud là người tổng hợp và diễn giải chúng một cách hệ thống hơn. Trong cuốn Giải mã giấc mơ viết năm 1900, Freud trình bày mô hình topo của tâm trí (topographic model of the mind, ý nói bản đồ, địa hình của tâm trí), theo đó tâm trí có thể được chia làm 3 khu vực: ý thức (conscious), tiền ý thức (preconscious) và vô thức (vô ý thức – unconscious). Đây là một trong ba mô hình quan trọng trong lý thuyết phân tích tâm lý học (phân tâm học) của Freud, hai cái kia là mô hình phát triển tâm lý tính dục (psychosexual stages) và mô hình cấu trúc tâm lý (structural, nói về id, ego và superego).

Continue reading

Tâm lý học bình dân và Tâm lý học pop

Bạn có thể từng nghe đến hai khái niệm: Popular Psychology (TLH bình dân hoặc đại chúng hoặc thường thức) và Pop Psychology (TLH pop). Thường thì hai khái niệm này tương đương nhau, nhưng trong một số trường hợp, có sự phân biệt TLH bình dân và TLH pop như sau:

Continue reading

Phim citizen Kane: câu chuyện chấn thương tâm lý trẻ thơ

Bộ phim “Công dân Kane” kể về một người cả đời đi tìm sự yêu thương, vì đã mất nó lúc còn ấu thơ. Vì có nhiều tiền, nên anh đã đi tìm yêu thương bằng cách bắt mọi người yêu quý mình mà bản thân anh không hề ý thức được. Cuối cùng, anh chết trong cơ độc với hoài niệm về những ngày hạnh phúc ngắn ngủi thời thơ ấu, đã phải kết thúc nhanh chóng khi bố mẹ giao anh cho người khác nuôi.

Continue reading

Các mục tiêu chính của Tâm lý học

Tâm lý học là nghiên cứu khoa học về tâm trí (mind) và hành vi (behavior). Vậy tâm lý học cụ thể làm gì, phục vụ mục đích (purpose) gì và có những mục tiêu (goal) gì?

Hãy cùng xem các mục tiêu chính của tâm lý học, những gì các nhà tâm lý học cố gắng đạt được, và cách tâm lý học được sử dụng để giải quyết các vấn đề trong thế giới thực.

Continue reading

Phân biệt: giá trị, đạo đức và luân lý

Giá trị (values, 价值) là những gì một người cho là quan trọng, là phải hành động vì nó. Giá trị quyết định hành vi của một người. Giá trị luôn gắn với một cá nhân cụ thể.

Ví dụ một người quý trọng tình bạn sẽ hy sinh vì bạn. Một người quý trọng sức khỏe sẽ dành thời gian luyện tập thể dục.

Đạo đức (morals, 道德, còn gọi là giá trị đạo đức hay chuẩn mực đạo đức) là những giá trị chung mà cộng đồng người chia sẻ. Đạo đức luôn gắn với một cộng đồng người. Đạo đức giúp trả lời câu hỏi thế nào là tốt / xấu.

Ví dụ không trộm cắp. Phải giúp đỡ trẻ em, người yếu.

Các giá trị đạo đức có thể tiềm ẩn mâu thuẫn nội tại, dẫn đến hai người của cùng một hệ chuẩn mực đạo đức có thể hành động khác nhau do các giá trị của riêng mình. Ví dụ, cùng là hệ đạo đức trung thực và phấn đấu, nhưng người trân trọng giá trị “chân thành” sẽ không gian lận, người trân trọng giá trị “thành công” sẽ có thể gian lận.

Luân lý (ethics, 伦理) quyết định việc một người làm là đúng / sai. Luân lý quy định về hành vi (đúng/ sai), trong khi đạo đức quy định về ý định (tốt/xấu). Luân lý là nỗ lực thể chế hóa các hành vi dựa trên các giá trị đạo đức. Do đó, vi phạm luân lý là phạm luật và bị trừng phạt theo quy định, còn vi phạm đạo đức thì cảm thấy tội lỗi và xấu hổ, bị chê trách.

Vì lẽ đó mà các ngành nghề có Code of Ethics chứ không phải Code of Morals (business ethics, programming ethics, v.v.) Code of Ethics liệt kê các hành vi vi phạm luân lý liên quan đến ngành nghề đó. Đến mức một doanh nghiệp thì có Code of Conduct (Bộ quy tắc ứng xử), chi tiết hóa cho mức tổ chức.

Đạo đức và luân lý có những mâu thuẫn với nhau. Ví dụ em trai là an ninh đã tiếp tay để anh mình là tội phạm trốn chạy, thì người em đã vi phạm luân lý (cũng là phạm luật) nhưng về mặt đạo đức thì tranh cãi (tình anh em vs trật tự xã hội). Còn về mặt giá trị, thì người em đã đặt giá trị “anh em ruột” lên trên hết.

Trong tiếng Việt, từ “luân lý” ít được dùng và người ta dùng từ “đạo đức” cho cả hai nghĩa, dẫn đến một số bất tiện trong thấu hiểu. Ví dụ chính quyền có khái niệm “đạo đức công vụ”, thật ra nên là “luân lý công vụ” vì là ethics, nhưng nghe không quen tai. Thật ra, nếu nền tảng đạo đức là yếu, thì các luân lý này dễ bị trở thành hình thức, đối phó, và có vẻ đang như vậy thật.

Tham khảo Global Charther of Ethics for Journalists của Int’l Federation of Journalists (tiếng Việt)

Đọc thêm về đạo đức: nhà tâm lý học Lawrence Kolhberg đưa ra lý thuyết về các giai đoạn phát triển Đạo đức ở một người. Bản giới thiệu lý thuyết này bằng tiếng Việt.