Category Archives: Trẻ con

Các bài liên quan đến nuôi, dạy và chơi với trẻ con

Uy và quyền của nhà giáo

Chút cảm nghĩ nhân ngày 20/11/2021

Để giáo dục trẻ con, các thầy cô giáo cần uy và quyền. Uy là uy tín, hình ảnh của thầy cô, gồm các phẩm chất và tri thức. Bọn trẻ cảm thấy uy tín của người thầy, tự nhiên kính trọng và nghe lời.

Quyền là quyền lực gây ảnh hưởng lên bọn trẻ. Khi đủ uy, các thầy cô ít khi sử dụng đến thứ này. Bà Thatcher nói: quyền lực cũng như nữ tính, nếu bạn phải nói ra là bạn có nó, thì tức là bạn không có. Khi uy tín không đủ, cảm thấy bọn trẻ không phục, “chống đối”, các thầy cô sẽ dùng đến quyền lực. Lạm dụng quyền lực là biểu hiện của thiếu uy, và của sự bất lực.

Để xây dựng uy tín, các thầy cô sẽ chăm lo cho hình ảnh của bản thân, các phẩm chất và tri thức. Bọn trẻ chỉ thấy thầy cô trong một số bối cảnh nhất định, khi hình ảnh được kiểm soát, và tương thích với những lời dạy. Chính vì thế nên bụt chùa nhà mới không thiêng, bản thân các thầy cô khó dạy con mình, vì tất nhiên chúng biết hết mọi thứ về họ, cả những hạn chế về phẩm chất và tri thức.

Ở thời đại 4.0, bỗng nhiên tụi học trò biết hơn rất nhiều về thầy cô mình. Có hai lý do. Thứ nhất là các thông tin riêng tư bị phơi bày. Nếu trước kia các thầy cô nói chuyện riêng với nhau thoải mái và bọn trẻ không thể biết, cố tìm biết là trọng tội nghe lén, thì ngày nay bọn chúng có thể thấy dễ dàng trên mạng xã hội. Quan sát các thể hiện của thầy cô trên Facebook, chúng sẽ điều chỉnh hình ảnh của họ trong đầu. Thứ hai, kiến thức trở nên lỗi thời. Các thầy cô khó còn có thể biết nhiều hơn học sinh như trước, thậm chí có nhiều thứ tụi trẻ giỏi hơn.

Vì thế, uy tín bị ảnh hưởng nhiều. Trong bối cảnh này, khi cảm thấy sự ngờ vực của trẻ đối với uy danh mình, các thầy cô sẽ có xu hướng sử dụng quyền lực. Khi đó, thay vì sự kính trọng, sẽ chỉ còn sự cam chịu. Không có tin cậy và cởi mở, việc học sẽ không xảy ra.

Như vậy, bản thân nghề nhà giáo đang thay đổi rất nhiều. Xu hướng có lẽ sẽ là, thầy cô coi bọn trẻ như người lớn, biết về họ nhiều hơn họ tưởng, có chủ kiến riêng cần được tôn trọng, có kiến thức ngang mình. Hướng dẫn chúng học và học cùng chúng. Mà học cùng tức là luôn sẵn sàng nhận mình sai. Thầy cô không phải là người chở đò nữa, mà là người đồng hành lớn tuổi kiên nhẫn, luôn tìm cách lui lại một chút về phía sau.

Chuyện một bức vẽ của trẻ con

Đang làm việc, tôi nhận được cuộc gọi từ nhà trẻ đề nghị đến đón con gái Nika sớm hơn bình thường.

– Có chuyện gì thế? – Tôi hỏi. – Nika bị sao à?

– Con gái chị ổn, nhưng chúng tôi cần nói chuyện với chị. – Giọng cô giáo nghe rất lạnh.

Tôi cố gắng tập trung vào công việc, không ăn thua. Tôi bỏ dở và chạy đến nhà trẻ. Ở đó, mọi người liếc tôi và bảo đến gặp bác sĩ tâm lý. Bác sỹ tâm lý thở dài, nhìn tôi như nhìn một học sinh lười, và đưa cho tôi một bức tranh trẻ con:

– Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra, mỗi em tự vẽ gia đình của mình. Tất cả vẽ về những người mà các em sống cùng, một số còn vẽ cả họ hàng. Và đây là tranh của con gái chị.

Tôi nhìn bức tranh. Phải nói rằng Nika không thích vẽ, và nó vẽ không đẹp ngay cả so với tuổi. Tóm lại, ba hình người theo phong cách “que tay-que chân-dưa chuột”. Nhưng kèm theo chú thích, vì con gái đã biết chữ và đang tập viết. Nó viết: “Bố”, “Bà Olya”, “Tôi”. Hết.

– Chị hiểu không? – chuyên gia tâm lý hỏi. – Chị không có mặt. Đơn giản là không. Chị không tham gia vào cuộc sống của bé, không có mặt. Cuộc sống của cô bé có bố và bà, nhưng cần cả mẹ nữa! Rất cần! Hơn nữa, chị đâu có sống ở chỗ khác…

Và cứ thế. Trong khoảng mười lăm phút họ phê bình tôi, yêu cầu thay đổi thái độ của tôi với đứa trẻ. Hai mẹ con rời nhà trẻ đi về. Nika ríu rít, tôi thì dở sống dở chết. Tôi cứ nghĩ mãi – sao lại thế? Kể từ khi sinh nó, tôi chưa xa nó một ngày nào. Tôi đã mừng vì có nó. Tôi yêu nó hơn bản thân, đọc sách cho nó, đưa đi khắp nơi, ở nhà cùng nấu ăn và dọn dẹp, cùng đưa chó đi dạo. Con bé dịu dàng, tốt bụng. Sao lại thế được? Cuối cùng, tôi không chịu được nữa.

– Nika yêu, – Tôi cố giữ giọng bình tĩnh. – Hôm nay con cùng cô Oksana vẽ tranh…

– Vâng ạ. – nó xác nhận.

– Vậy tại sao con chỉ vẽ mình với bố và bà, không có mẹ?

– Mẹ ơi, tại mẹ đẹp quá! – Nika nói. – Mà con không thể vẽ đẹp như vậy!

(dịch từ nguồn Facebook tiếng Nga)

Alice Miller, nhà phân tâm học, qua đời ở tuổi 87. Người quy các vấn đề của con người cho hành vi của cha mẹ

Bài cáo phó trên The New York Times, by William Grimes. April 26, 2010.

Alice Miller, nhà phân tâm học, người đã định vị lại gia đình như là nơi khởi nguồn của rối loạn chức năng, với lý thuyết của bà rằng quyền lực và sự trừng phạt của cha mẹ là căn nguyên của hầu hết các vấn đề của con người, đã qua đời tại nhà riêng ở Provence vào ngày 14 tháng 4. Bà thọ 87 tuổi.

Continue reading

Chấn thương thời thơ ấu

Alice Miller, Ph.D.

Từ khi còn niên thiếu, tôi đã tự hỏi tại sao nhiều người lại lấy làm vui khi hạ nhục người khác. Rõ ràng là có nhiều người nhạy cảm với nỗi đau của người khác, chứng tỏ sự thôi thúc có tính chất hủy hoại làm tổn thương người khác không phải là một khía cạnh phổ biến của bản chất con người. Vậy tại sao một số người lại có xu hướng giải quyết vấn đề của mình bằng bạo lực, trong khi những người khác thì không?

Continue reading

Ứng dụng các lý thuyết về phát triển nhân cách

Bài tổng hợp này nhằm mục đích xác định xem bố mẹ có thể vận dụng được gì trong các lý thuyết phát triển nhân cách này để dạy con, sao cho cách dạy phù hợp với sự phát triển của trẻ. Cuối bài có các chỉ dẫn đến các bài viết chi tiết hơn.

Nhân cách (personality, tính cách) là thứ mà mọi người hay nghĩ đến. Khi gặp những người mới, cho dù ở công sở, trường học hay các sự kiện xã hội, ta thường để ý ngay vào tính cách của họ: tốt bụng, tử tế, hướng ngoại hay nhút nhát.

Continue reading

Sự phát triển của vị thành niên

Vị thành niên (adolescence) là giai đoạn bắt đầu với tuổi dậy thì và kết thúc khi chuyển sang tuổi trưởng thành (khoảng 10–20 tuổi). Những thay đổi về thể chất liên quan đến tuổi dậy thì được kích hoạt bởi các hormone. Những thay đổi về nhận thức bao gồm: cải thiện khả năng tư duy phức tạp và trừu tượng, cũng như tốc độ phát triển khác nhau của các phần khác nhau của não bộ. Điều này làm tăng khả năng vị thành niên có những hành vi mạo hiểm, bởi vì lòng mong muốn tìm kiếm cảm giác mạnh và sự tán thưởng lại phát triển trước khả năng kiểm soát nhận thức.

Continue reading

Phân biệt: thành niên, thanh niên, vị thành niên

Người ta chia các nhóm tuổi từ nhiều góc độ khác nhau: góc độ pháp lý, văn hóa xã hội, tâm lý, v.v. Các cách chia này có sự chồng lấn và không phải lúc nào cũng có ranh giới rõ ràng. Dưới đây là một số nội dung liên quan (sẽ được cập nhật), để các bố mẹ biết để phân biệt.

Theo luật pháp Việt Nam

  • Trẻ em: dưới 16 tuổi (theo Luật Trẻ em)
  • Thanh niên: từ đủ 16 đến 30 tuổi (theo Luật Thanh niên)
  • Thành niên: từ đủ 18 tuổi trở lên (theo Luật Dân sự). Người thành niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Các khái niệm văn hóa xã hội

  • Vị thành niên (còn gọi là thanh thiếu niên, adolescent, teenage): độ tuổi 10-19 tuổi (WHO quy định). Khác với Thành niên là khái niệm chặt chẽ theo luật Dân sự, khái niệm Vị thành niên không chặt chẽ.
  • Thiếu niên: từ 9/10 tuổi đến dưới 16
  • Nhi đồng: từ 5/6 tuổi đến 9/10
  • Thiếu nhi là thiếu niên + nhi đồng. Khái niệm Thiếu nhi nằm trong khái niệm Trẻ em trong Luật Trẻ em (dưới 16)

Các giai đoạn

Sơ sinh (infant) – Tuổi thơ (childhood) – Thanh thiếu niên, tuổi trẻ (adolescence, youth) – Người lớn (adulthood)

Bảng tuần hoàn hóa học kèm minh họa

Bảng tuần hoàn hóa học tiếng Việt có hình minh họa sinh động và dễ hiểu, gồm phiên bản Bằng hình ảnh và phiên bản Bằng chữ, bổ trợ cho nhau. Các độc giả có thể download ảnh về và sử dụng dưới dạng bản mềm, hoặc in ra đến khổ giấy A3. Rất hữu ích cho lớp học cũng như gia đình. Nếu muốn file có độ phân giải cao hơn để in khổ to hơn, xin download pdf ở cuối bài.

Continue reading

Phân biệt: khả năng, năng lực, kỹ năng, tài năng

Khả năng (ability)

Là từ chung nhất, thể hiện việc một người có thể làm và hoàn thành một việc nào đó. Việc đó có thể rất nhỏ, là một kỹ năng hay thậm chí một phần của kỹ năng (sub-skill); và cũng có thể rất to. Ví dụ khả năng làm cách mạng.

Khi nói đến việc lớn, khả năng thường bao gồm cả ý chí, thái độ – là những thứ cần thiết bên cạnh năng lực để có thể làm xong việc. Khả năng có nghĩa rộng, nên có thể áp dụng không chỉ cho cá nhân mà còn cho một nhóm: “khả năng của công ty chúng ta”.

Tài năng (talent)

Tài năng là những đặc tính (quality) đặc biệt, bẩm sinh, không thể có được chỉ bằng cách học. Chúng cũng đươc gọi là khả năng đặc biệt. Ví dụ khả năng tưởng tượng. Nếu vẽ là kỹ năng cứng, thì cộng với tài năng tưởng tượng, “nhìn” sự vật theo cách đặc biệt, có thể cho ra một danh họa.

Tài năng cần được học tập để trở thành kỹ năng, để tạo ra một khả năng làm ra những sản phẩm xuất sắc. Ví dụ có người có tài viết nhưng không đủ kỹ năng thì chỉ lóe sáng chứ không trở thành nhà văn xuất chúng với sự nghiêp đồ sộ được.

Kỹ năng (skill)

Là đơn vị nhỏ nhất, chỉ ra một người có thể làm được việc gì đó. Vì là đơn vị cơ bản, nên người ta có thể liệt kê danh sách các kỹ năng và tìm cách dạy. Kỹ năng có thể chia làm hai loại:

Kỹ năng cứng là kỹ năng làm việc với các sự vật, tức là có tính chất kỹ thuật. Có thể đánh giá được.

Kỹ năng mềm là kỹ năng làm việc với tâm lý con người. Khác với đồ vật, ta không thể tác động trực tiếp lên con người, mà chỉ có thể tạo ảnh hưởng đến họ để mong họ làm điều ta muốn. Vì thế, kỹ năng mềm khó đánh giá và phụ thuộc vào tình huống cụ thể. Ví dụ, một người được coi là có kỹ năng đàm phán giỏi có thể không thành công trong tình huống mà người có kỹ năng đàm phán kém hơn lại ăn, vì cùng có sở thích với đối phương.

Trong những tình huống làm việc với con người nhưng không phải với tâm lý, thì ta nói về kỹ năng cứng. Ví dụ kỹ năng phẫu thuật.

Kỹ năng mềm có thể chia làm 2 nhóm:

  • Kỹ năng làm việc với tâm lý người khác: thuyết trình, đàm phán, lãnh đạo, v.v.
  • Kỹ năng làm việc với tâm lý bản thân: quản lý thời gian, quản lý cảm xúc, áp lực, v.v.

Năng lực (competency)

Năng lực là khả năng làm một việc gì đó chung hơn, khó xác định rõ ràng hơn so với kỹ năng. Ví dụ năng lực tư duy độc lập, năng lực xác định và giải quyết vấn đề. Nó đòi hỏi kết hợp nhiều kiến thức, kỹ năng và cả thái độ tiếp cận vấn đề.

Như vậy, năng lực là khái niệm trừu tượng hơn so với kỹ năng. Năng lực không thể dạy trực tiếp được, mà phải gián tiếp thông qua các kỹ năng cứng, mềm và môi trường thực hành phù hợp. Ví dụ năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực nghiên cứu khoa học.

Ghi chú

Các khái niệm trên không có định nghĩa chặt chẽ. Trên đây chỉ là một cách giải thích nhằm cung cấp thêm một cách phân biệt hữu ích.

Phim khiêu dâm: Khủng hoảng sức khỏe cộng đồng thời đại số

Giới thiệu: ở VN thời gian gần đây, liên tiếp xảy ra các vụ lam dụng tình dục mà trẻ em là nạn nhân. Vấn đề này có thể tiếp cận tìm hiểu từ nhiều góc độ. Bài viết Pornography: The Public Health Crisis of the Digital Age của Psychology Today (ra 9 ngày trước, 15/4/2021) cho ta thêm thông tin và công cụ để tham gia giải quyết vấn đề xã hội phức tạp này, nhất là với phụ huynh của các bé nam.

Continue reading