Cây anh đào và cây sồi (phần 26)

CÀNH ANH ĐÀO

Thập kỷ bị mất

Tôi bắt đầu viết cuốn sách này vào những năm 1960, khi còn là nhà báo ở Nhật Bản. Khi đó, Tokyo chưa có những tòa nhà cao tầng hay đường cao tốc trên cao. Những chiếc Honda ba bánh – sự kết hợp giữa ô tô và xe máy – rong ruổi trên đường phố. Chuyến tàu đến Kyoto mất hơn sáu tiếng. Và món quà lưu niệm thời thượng nhất để mang về ​​nước là chiếc radio bán dẫn bỏ túi – dấu hiệu đầu tiên của phép màu kinh tế Nhật Bản. Rồi, ngay trước mắt tôi, Nhật Bản nhanh chóng vươn lên hàng ngũ các nước dẫn đầu thế giới, thách thức hai siêu cường là Hoa Kỳ và Liên Xô. Nước này tung ra tràn ngập thế giới những ô tô, tivi và thiết bị gia dụng. Cơ chế tạo ra phép màu Nhật Bản vẫn tiếp tục hoạt động. Nhật Bản vẫn xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu.

Nhưng kể từ cuối những năm 1980, hào quang của phép màu kinh tế Nhật Bản phai nhạt. Nền kinh tế của Xứ sở Mặt trời mọc, được lập trình cho tốc độ cao, đã bắt đầu chững lại. Thị phần của nước này trong các chỉ số quan trọng như linh kiện bán dẫn, máy tính và ô tô bắt đầu giảm. Về năng suất lao động, Nhật Bản đã tụt từ vị trí thứ nhất thế giới xuống thứ tư, sau Hoa Kỳ, Singapore và Hồng Kông.

Người Nhật quen với việc tập trung vào sản xuất hơn là làm dịch vụ và tài chính, tập trung vào nguồn lực trong nước hơn là đầu tư nước ngoài, vào sự ổn định lâu dài hơn là thành công nhanh chóng. Tuy nhiên, những thế mạnh này của mô hình kinh tế Nhật Bản lại trở thành nguồn gốc của điểm yếu của nó. Nền kinh tế chỉ huy, trong đó các quan chức xác định ưu tiên và điều tiết nguồn lực, kết hợp với bản chất gia trưởng của quan hệ công nghiệp, đã hoạt động hiệu quả khi nói đến việc bắt kịp phương Tây. Nhưng kinh nghiệm đã cho thấy rằng trong thời đại toàn cầu hóa và công nghệ thông tin, không quốc gia nào có thể mãi là một hòn đảo biệt lập. Và vì vậy, Nhật Bản thấy mình là nạn nhân của chính sự thành công của mình.

Một thập kỷ trước, chủ đề yêu thích của một họa sĩ biếm họa là hai người chạy: một chú Sam béo phì, thở hổn hển, bị một người đàn ông Nhật Bản thấp bé, gầy gò vượt qua. Giờ đây, vai trò đã đảo ngược. Nền kinh tế Mỹ dường như đã lấy lại được động lực. Sự phục hồi kéo dài của nó trùng hợp với một giai đoạn suy thoái sâu rộng và kéo dài chưa từng có ở Nhật Bản. Cư dân của xứ sở mặt trời mọc hiện nay gọi thập niên 1990 là “Thập kỷ bị mất”. Vậy đã xảy ra điều gì?

Đến năm 1985, Nhật Bản đã hoàn toàn tự khẳng định vị thế là “xưởng sản xuất của thế giới” (tương tự như nước Anh thế kỷ 18), trở thành nhà xuất khẩu hàng hóa công nghiệp lớn nhất thế giới. Trong suốt một thập kỷ, họ bán ra nhiều hơn mua vào 100 tỷ đô la mỗi năm. Tuy nhiên, thay vì sử dụng doanh thu này để đáp ứng nhu cầu của thời kỳ hậu công nghiệp, như người Mỹ đã làm bằng cách đặt cược vào sự phát triển của công nghệ thông tin, người Nhật lại chọn đầu cơ vào bất động sản và chứng khoán. Họ mua Trung tâm Rockefeller ở New York, hãng phim Columbia ở Hollywood và cho vay tràn lan. Bong bóng thị trường chứng khoán cuối cùng đã vỡ. Giá bất động sản lao dốc, cổ phiếu và trái phiếu mất giá. Các ngân hàng phải gánh chịu những khoản nợ xấu.

Từ những năm 1950 đến những năm 1980, Nhật Bản đã vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh bằng cách không tiếc chi phí để mua giấy phép và bằng sáng chế nước ngoài, đầu tư mạnh, xuất khẩu rộng rãi và tiêu thụ ít. Trong những điều kiện đó, “vương quốc của các nhóm” – một hệ thống việc làm trọn đời, một vòng tròn ổn định các nhà cung cấp trung thành và các nguồn tài chính ổn định – đã tỏ ra hiệu quả. Tuy nhiên, với sự du nhập mạnh mẽ của công nghệ thông tin, toàn cầu hóa kinh tế đã diễn ra. Điều này đã thách thức những đặc điểm riêng biệt của người Nhật như tư duy tập thể, lòng trung thành với gia tộc và sự hy sinh vì lợi ích chung. Công nghệ thông tin đã làm giảm vai trò của yếu tố con người, yếu tố trước đây giúp người Nhật vượt trội hơn các đối thủ cạnh tranh.

Chất lượng phần mềm đang trở nên quan trọng hơn lòng trung thành của người lao động đối với công ty hoặc mối quan hệ gia đình với nhà cung cấp. Mạng máy tính đã thay thế những lợi thế của các mối quan hệ gia trưởng lâu đời. Giờ đây, người ta có thể ngay lập tức gửi yêu cầu đến hàng nghìn địa chỉ và chọn ra những ưu đãi tốt nhất. Hoạt động kinh tế càng cởi mở, các công ty càng ít lý do để chỉ dựa vào nhóm tài chính – công nghiệp của họ làm nguồn vốn duy nhất, và càng có nhiều cám dỗ để huy động vốn độc lập trên thị trường chứng khoán. Cạnh tranh càng gay gắt, họ càng ít sẵn lòng tuân thủ kỷ luật nghiêm ngặt của nhóm hoặc bất kỳ quy định nào của chính phủ.

Ichiro Ozawa, người sáng lập Đảng Tân Biên Giới và là người ủng hộ cải cách lối sống truyền thống Nhật Bản, thường đưa ra sự so sánh thế này. Khi những người đồng hương của ông đến Hoa Kỳ và nhìn thấy Grand Canyon, điều khiến họ ấn tượng nhất là sự thiếu vắng bất kỳ lan can bảo vệ nào trước vực sâu hàng trăm mét. Từ quan điểm của người Mỹ, Ozawa nhận xét, mọi người nên tự chịu trách nhiệm cho bản thân. Trong khi đó, theo quan điểm của người Nhật, chính quyền luôn có nghĩa vụ đảm bảo an toàn cho họ. Có lẽ đây là một phép ẩn dụ thích hợp. Kể từ cuộc Duy tân Minh Trị năm 1868, các công ty Nhật Bản đã quen với cảm giác được nhà nước bảo vệ, giống như những tàu buôn trong một đoàn hộ tống. Họ đã quen với ý tưởng rằng cạnh tranh chỉ được phép trong một khu vực được xác định nghiêm ngặt.

Người Nhật có xu hướng coi việc duy trì hiện trạng, một sự đồng thuận vô danh, là một giá trị bền vững và một ưu tiên không lay chuyển. Điều này không chừa chỗ cho trách nhiệm cá nhân hay sáng kiến riêng. Trong khi văn hóa thành công của Mỹ dựa trên ý tưởng rằng tài năng và sự siêng năng được tưởng thưởng, người Nhật không ngưỡng mộ những người bứt phá lên trước, mà thay vào đó, họ “đánh trúng cái đinh đang nhô ra khỏi tấm ván”. Cuộc Cách mạng Công nghiệp đã diễn ra ở Nhật Bản trước cuộc cách mạng trí tuệ. Chủ nghĩa bảo thủ xã hội của xã hội Nhật Bản thúc đẩy kỷ luật và sự hài hòa, khuyến khích sự siêng năng và đảm bảo sự ổn định, nhưng đã ngăn chặn những người mới và những ý tưởng mới.

Hơn nữa, xã hội dựa trên cạnh tranh của Mỹ sẽ cho bất kỳ ai đã thất bại cơ hội để thử lại nhiều lần. Còn ở Nhật Bản, người thua cuộc hầu như không có cơ hội bắt đầu lại. Bởi vì vốn đạo đức có được thông qua việc làm lâu dài tại một công ty không thể chuyển sang một chỗ làm mới.

Vậy phải làm gì để khôi phục lại sự năng động trước đây của nền kinh tế Nhật Bản? Theo các nhà cải cách như Ozawa, điều này đòi hỏi phải giảm sự can thiệp của chính phủ vào kinh doanh, mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa, tự do hóa hệ thống tài chính, thăng tiến nhân sự dựa trên năng lực chứ không phải thâm niên, cải cách giáo dục và chuyển từ kiến ​​thức chuẩn hóa sang phát triển khả năng sáng tạo của giới trẻ và khả năng tư duy độc lập.

“Tầm nhìn của Nhật Bản cho thế kỷ 21” là tiêu đề của một tài liệu được các bộ óc xuất sắc nhất của đất nước chuẩn bị cho chính phủ vào năm 2000. “Toàn cầu hóa kinh tế và xã hội, cuộc cách mạng công nghệ thông tin, sự tiến bộ khoa học ngày càng tăng tốc, tỷ lệ sinh giảm và dân số già hóa ở các nước công nghiệp hóa – tất cả những điều này đang nhanh chóng thay đổi cái thế giới như chúng ta biết”, các tác giả của báo cáo lưu ý. Họ kết luận rằng những điều kiện thay đổi này đòi hỏi Nhật Bản phải chuyển mình từ “vương quốc của các tập thể” thành “vương quốc của các cá nhân”. Không được phép để truyền thống và phong tục kìm hãm những ý tưởng mới và hành vi khác thường.

Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã trở nên nổi tiếng với những phát minh như karaoke và Tamagotchi. Tuy nhiên, xứ sở mặt trời mọc vẫn xuất khẩu công nghệ chỉ bằng một nửa so với nhập khẩu. Trong khi đó, Hoa Kỳ bán số lượng giấy phép và bằng sáng chế nhiều gấp bốn lần so với số lượng mua. Tuy nhiên, tình hình không đến nỗi tuyệt vọng. Một phần ba số gia đình Nhật Bản hiện sở hữu máy tính cá nhân. Mười triệu chiếc được bán ra mỗi năm – nhiều hơn cả tivi. Số lượng điện thoại di động cũng đang tăng nhanh chóng.

Khi tôi trở lại Nhật Bản sau một thời gian dài vắng mặt, tôi ấn tượng nhất với một cảnh tượng trên đường phố. Một đám nữ sinh trung học đang trở về nhà từ trường. Và những nữ sinh ngồi ở hàng ghế sau nói chuyện với bạn bè ngồi phía trước bằng điện thoại di động. Tôi nhanh chóng nhận ra đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Cầm điện thoại di động trên tay cũng là một dấu hiệu của thời trang học đường, giống như những chiếc tất trắng trễ xuống đầu gối với những nếp gấp kỳ cục. Giới trẻ, đặc biệt là thanh thiếu niên, chiếm số lượng người dùng điện thoại di động nhiều nhất ở Nhật Bản. 64% trong số họ sử dụng điện thoại di động, so với 12% ở Hoa Kỳ.

Điều đáng ngạc nhiên đối với các chuyên gia tiếp thị, những người đã nghiên cứu kỹ lưỡng nhu cầu của từng nhóm tuổi, là điện thoại di động đã trở thành mặt hàng chi tiêu hàng đầu của thanh thiếu niên Nhật Bản. Họ dành một phần tư tiền tiêu vặt cho điện thoại – nhiều hơn cả tiền mua đĩa CD, trò chơi điện tử và tạp chí, những thứ trước đây chiếm phần lớn ngân sách của họ.

– “Bây giờ tôi không thể sống nổi một ngày mà không có điện thoại di động,” – Naomi, một học sinh lớp tám mà tôi đã bắt chuyện trên tàu điện ngầm, nói. – “Tôi mất hơn một tiếng để đến trường, và tôi có thể trò chuyện với bạn bè trong khi đi. Và tuyệt nhất là, bạn bè có thể gọi cho tôi vào buổi tối ngay trong phòng tôi.” Họ không cần phải nhờ bố mẹ gọi tôi lại, giải thích ai muốn nói chuyện với tôi và muốn nói về điều gì…

Cùng lúc đó, tôi thở dài khi nhớ lại thời trẻ của mình, khi không phải cô gái nào ở Moscow cũng có điện thoại, và cái điện thoại đó thường treo ở hành lang của căn hộ tập thể. Naomi kể, bây giờ khi nam nữ thanh niên gặp nhau, họ trao đổi điện thoại di động trong vài phút để lưu tên và số điện thoại. Naomi có khoảng ba trăm người quen được lưu trong điện thoại của mình. Và các bạn bè ngấm ngầm đua nhau về số lượng các số điện thoại mà mình có.

Tôi nghĩ rằng nhu cầu điện thoại di động tăng vọt ở Nhật Bản – năm 1993 có 2 triệu chiếc, năm 1995 có 10 triệu chiếc, và năm 2000 có khoảng 50 triệu chiếc – phần lớn được giải thích bởi những nét đặc thù trong tính cách người Nhật. Một mặt, lối sống và đạo đức truyền thống của người Nhật khiến họ trở nên rụt rè, như thể đang đeo mặt nạ. Mặt khác, nó tạo ra cảm giác cô đơn, khao khát giao tiếp và mong muốn được là một phần của một nhóm người nhất định.

Ngay đầu những năm 1990, Nhật Bản đã có hệ thống điện thoại đầy đủ – 44 thuê bao cho mỗi 100 cư dân. Số lượng điện thoại đã bằng số lượng hộ gia đình. Hiện nay, cả nước có nhiều điện thoại di động hơn điện thoại cố định. Và điện thoại nhà cũng trở nên hiện đại hơn. Cứ năm gia đình Nhật Bản thì có một gia đình sở hữu máy trả lời tự động và máy fax. Fax được sử dụng cho thư từ kinh doanh. Tuy nhiên, giờ đây chúng đã có đối thủ: email. Năm 2000, Nhật Bản có 15 triệu người dùng internet. Với 12% dân số, đất nước mặt trời mọc hiện chỉ xếp thứ mười ba trên thế giới. Điều này được giải thích, thứ nhất, bởi thực tế là ở Mỹ, một nửa số hộ gia đình sở hữu máy tính cá nhân, trong khi ở Nhật Bản chỉ có một phần ba. Thứ hai, chữ Hán khiến việc sử dụng bàn phím máy tính trở nên khó khăn. Cuối cùng, việc kết nối với mạng Internet toàn cầu ở Nhật Bản đắt hơn nhiều so với ở Bắc Mỹ và Tây Âu.

Thật không may cho Nhật Bản, internet bùng nổ vào những năm 1990. Ngay lúc đó, nền kinh tế của nước này bị tê liệt bởi một cuộc suy thoái kéo dài, trùng hợp với thời kỳ bùng nổ hoạt động kinh doanh chưa từng có ở Hoa Kỳ. Kết quả là, Nhật Bản nhận thấy mình bị gạt ra ngoài lề cuộc cách mạng thông tin, đánh mất vị thế lãnh đạo thế giới mà họ đã dày công giành được từ những năm 1950 đến những năm 1980. Đó là lý do tại sao người Nhật cay đắng gọi những năm 1990 là “thập kỷ bị mất”.

Tuy nhiên, người Nhật đã nhiều lần chứng minh khả năng bắt kịp, cải tiến nhanh chóng và sản xuất hàng loạt các công nghệ được phát triển ở các nước khác. Giờ đây, họ đã quyết định ưu tiên điện thoại di động hơn máy tính cá nhân. Hơn 70 triệu người Nhật đã sở hữu điện thoại di động có kết nối internet trực tiếp. Sử dụng điện thoại, họ có thể nhận và gửi email, thực hiện giao dịch ngân hàng, giao dịch thương mại điện tử, và thậm chí trả phí đường cao tốc mà không cần xếp hàng chờ đợi tại các trạm thu phí.

Như vậy, xứ sở mặt trời mọc một lần nữa buộc phải bắt kịp phương Tây, những nước đã đi trước vào kỷ nguyên công nghệ thông tin và điều khiển học. Người Nhật, như trước đây, đang tìm kiếm những con đường mới, cố gắng áp dụng những lợi thế hiện có của mình vào những mục đích mới. Ví dụ, hãy xem lĩnh vực mà Nhật Bản dẫn đầu: chế tạo robot. Đất nước Mặt trời mọc đã sử dụng rộng rãi robot trong sản xuất suốt 30 năm qua. Nước này chiếm gần 60% tổng số robot công nghiệp đang hoạt động trên thế giới. Các xưởng sản xuất gần như không có người của các nhà máy ô tô Nhật Bản trông giống như những cảnh trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Những công việc khó khăn nhất đối với con người, chẳng hạn như hàn thân xe, được thực hiện với độ chính xác hoàn hảo bởi những robot không hề biết đến sự mệt mỏi hay cảm giác chuếch choáng sáng thứ hai.

Vì một lý do nào đó, điều khiển học đặc biệt được các nhà khoa học và kỹ sư Nhật Bản quan tâm. Trong khi các đồng nghiệp người Mỹ của họ đặt cược vào công nghệ thông tin, người Nhật đã phát minh ra Tamagotchi – một sinh vật ảo mà điểm thu hút duy nhất là nhu cầu được chăm sóc liên tục.

Sản phẩm mới nhất của Sony, chú chó robot Aibo, đã đạt được thành công thương mại khổng lồ. Chú chó robot này quay đầu khi được gọi, vẫy đuôi với chủ nhân và sủa người lạ. Nó được bán ở Tokyo với giá khoảng 2500 đô la, và 3000 món đồ chơi này đã bán hết trong 20 phút. 2000 chú chó Aibo đã được bán hết trong bốn ngày ở Bờ Tây Hoa Kỳ, tuy nhiên, phần lớn người mua ở đó là người Nhật.

Trong khi chú chó con Aibo gây thích thú như một kỳ tích của công nghệ điều khiển học, chủ nhân của chú mèo con Tama đôi khi hoàn toàn quên mất rằng thú cưng của họ là một robot. Nó âu yếm chủ nhân, kêu gừ gừ và nhắm mắt, nhưng cũng có khả năng duỗi móng vuốt. Chú mèo máy này, được tạo ra bởi Tập đoàn Omron, không chỉ mang lại niềm vui cho trẻ em mà còn làm giảm bớt sự cô đơn của người già.

Người tạo ra chú mèo con Tama, kỹ sư Takanori Shibata, ban đầu làm việc trong lĩnh vực robot công nghiệp. Nhưng giờ đây ông đã trở thành người đam mê một lĩnh vực mới.

– “Tôi muốn robot trở thành một phần trong cuộc sống của con người, trở thành bạn đồng hành và bạn bè của họ…”

Hiện thân của giấc mơ này là chú gấu bông Kuma, được tạo ra bởi Tập đoàn Matsushita. Đó là một robot chăm sóc được thiết kế để chăm sóc những người già cô đơn và đóng vai trò là cầu nối giữa họ và phòng khám gần nhất.

Khi bà Kazuko Tomiyama, 77 tuổi, đã về hưu, rời khỏi phòng ngủ, bà nghe thấy chú gấu bông Kuma nói: “Chào buổi sáng. Đừng quên bà có hẹn khám bác sĩ lúc 11 giờ hôm nay. Mặc ấm vào nhé – ngoài trời chỉ 13 độ thôi.”

Tiếp theo là nghi thức chào hỏi thông thường của người Nhật. Mỗi cuộc trò chuyện đều được ghi âm và truyền đến văn phòng an sinh xã hội địa phương. Nếu chủ nhân không phản hồi lại mệnh lệnh của robot, chuông báo động sẽ vang lên tại phòng khám gần nhất và xe cứu thương sẽ được điều động.

– “Tôi luôn lo sợ về số phận của người hàng xóm sống một mình, người đã qua đời tại nhà riêng mà mọi người chỉ biết được hai tuần sau đó,” bà Kazuko Tomiyama nói. “Giờ đây, dưới sự chăm sóc của chú gấu, tôi cảm thấy bình tĩnh. Thật tuyệt khi nó giúp đỡ việc nhà – bật đèn, bật điều hòa, và nếu bạn yêu cầu, thậm chí cả TV.”

Theo kỹ sư Shibata, thị trường robot gia đình ở Nhật Bản có thể đạt 10 tỷ đô la – gấp đôi thị trường hiện tại. Thị trường robot công nghiệp đang bùng nổ. Vì vậy, những món đồ chơi như chú chó con Aibo, mèo con Tama và gấu Kuma không phải là chuyện nhỏ. Và những công nghệ cần thiết để sản xuất chúng đang thúc đẩy Nhật Bản tiến vào kỷ nguyên công nghệ thông tin và điều khiển học.

Và đây là lần thứ ba – cũng như các năm 1868 và 1945 – đất nước Mặt trời mọc đang trải qua một bước ngoặt trong lịch sử. Bước ngoặt đầu tiên do Hoàng đế Minh Trị mang lại, người mà đồng bào ông so sánh với Sa hoàng Peter Đại đế. Các cuộc cải cách của ông đã chấm dứt thời kỳ hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài và đưa Nhật Bản vào con đường hiện đại hóa với khẩu hiệu “Công nghệ phương Tây, tinh thần phương Đông”. Bước ngoặt thứ hai xảy ra sau khi chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản bị đánh bại. Khi đó, Nhật Bản đã chuyển đổi thành công tổ hợp công nghiệp quân sự tập trung, lựa chọn khôn ngoan các lĩnh vực triển vọng nhất cho sản xuất hướng xuất khẩu và biến thành siêu cường kinh tế thứ hai thế giới. Đến cuối những năm 1980, mục tiêu từng là lý tưởng quốc gia của các thế hệ người Nhật thời hậu chiến đã đạt được: chứng minh rằng họ không hề thua kém những người đã đánh bại họ trong Thế chiến II.

Bước vào ngưỡng cửa thế kỷ 21, Nhật Bản một lần nữa lại đứng trước ngã ba đường. “Vũ khí bí mật” của họ, một yếu tố quan trọng tạo nên kỳ tích kinh tế thời hậu chiến—chủ nghĩa gia đình trị, quan hệ lao động và kinh doanh gia trưởng (mà người Nhật gọi là “kazoku-kokka”—một quốc gia gia đình)—tất cả đều trở nên lỗi thời trong một xã hội hậu công nghiệp.

Cuộc Cách mạng Công nghiệp giữa thế kỷ 18 ở Anh không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất mà còn thay đổi cả lối sống của con người, bản chất các mối quan hệ và hệ thống giá trị của họ. Cuộc cách mạng công nghệ thông tin vào đầu thế kỷ 21 hứa hẹn những thay đổi cơ bản tương tự. Chính vì tính độc đáo của mình, Nhật Bản cảm nhận điều này một cách đặc biệt sâu sắc. Mục tiêu quốc gia mới—chuyển đổi từ “vương quốc của các tập thể” sang “vương quốc của các cá nhân”—đã trở thành một nhu cầu cấp thiết. Và vì vậy, tại bước ngoặt thứ ba trong lịch sử Nhật Bản, chính điều mà đất nước Mặt trời mọc từng tự hào—giáo dục công—lại đang bị chỉ trích gay gắt.

Cốt lõi của nó, như đã đề cập, là hệ thống thi cử, dựa trên các nguyên tắc Nho giáo về việc tuyển chọn quan lại ở Trung Quốc cổ đại. Bản chất của nó là dạy người ta ghi nhớ hơn là suy ngẫm; hành động theo thông lệ hơn là tìm kiếm các giải pháp độc lập; tuân theo truyền thống hơn là phá vỡ chúng. Nền giáo dục công này đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng loạt, vốn cần một số ít tướng lĩnh thông minh và một đội quân binh lính ngoan ngoãn.

Nhưng rồi thời đại công nghệ thông tin đến. Và internet là một công cụ hoàn toàn mang tính cá nhân. Phương pháp ra quyết định của Nhật Bản dựa trên sự đồng thuận ẩn danh không phù hợp với nó. Chìa khóa thành công giờ đây là sáng kiến ​​cá nhân, sáng tạo. Chủ nghĩa tập thể, vốn là nguồn sức mạnh của Nhật Bản trong những năm 1950-1980, giờ đây lại trở thành nguyên nhân gây ra điểm yếu của nước này.

Có lẽ ví dụ rõ ràng nhất về những thiếu sót của nền giáo dục công lập Nhật Bản là việc Nhật Bản chỉ có sáu nhà khoa học đoạt giải Nobel, so với hơn 150 người ở Hoa Kỳ.

– “Để thành công trong xã hội Mỹ, một người phải xác định được tài năng độc đáo của mình và kiên trì phát triển, trau dồi nó. Ở Nhật Bản, sáng kiến ​​cá nhân ít được coi trọng; không có sự cạnh tranh để phát triển nó. Đã đến lúc chúng ta chuyển từ việc sản xuất hàng loạt các chuyên gia có trình độ học vấn trung bình sang việc lựa chọn và đào tạo một tầng lớp trí thức ưu tú,” – nhà vật lý Leo Esaki, người đoạt giải Nobel năm 1973, cho biết.

Cho đến nay, không chỉ học sinh tiểu học mà cả sinh viên đại học cũng được khuyến khích học thuộc lòng những gì được viết trong sách giáo khoa hoặc được giảng dạy trên lớp. Mục tiêu của giáo dục công lập là tạo ra những người Nhật Bản gương mẫu, có khả năng đặt thành công chung lên trên tham vọng cá nhân. Như một đồng nghiệp người Mỹ đã nhận xét rất đúng với tôi ở Tokyo, trong khi ở phương Tây, trưởng thành có nghĩa là trở nên độc lập hơn, thì đối với người Nhật, điều đó hoàn toàn ngược lại.

Theo yêu cầu của cố Thủ tướng Obuchi, một nhóm các nhà tư tưởng hàng đầu của đất nước đã đệ trình báo cáo “Tầm nhìn của Nhật Bản cho thế kỷ 21” lên chính phủ xem xét. Tài liệu này kêu gọi nuôi dưỡng tinh thần đổi mới trong giới trẻ và coi sự đa dạng là nguồn sức mạnh. Một trong những khuyến nghị gây chú ý nhất là việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chính thức thứ hai và lồng tiếng tất cả các văn bản chính thức bằng tiếng Anh. Các tác giả của “Tầm nhìn của Nhật Bản cho thế kỷ 21” cay đắng nhận xét rằng về trình độ tiếng Anh, ngôn ngữ đã trở thành ngôn ngữ của internet, người Nhật thuộc hàng thấp nhất thế giới.

Trong thế kỷ 21, người ta đề xuất tư nhân hóa việc giảng dạy tiếng Anh như một phần của cuộc cải cách triệt để nền giáo dục công lập Nhật Bản. Điều này bao gồm việc giảm 40% chương trình học bắt buộc và chuyển sang tuần học ba ngày. Học sinh sẽ phải đến trường vào các ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu. Và với nguồn ngân sách được giải phóng, trẻ em sẽ được cấp phiếu để vào các ngày thứ Ba và thứ Năm các em có thể lựa chọn tham gia các khóa học tiếng Anh tư nhân bổ sung và các môn học khác, có thể là vật lý và toán học, có thể các môn nhân văn.

Vì vậy, bước vào thế kỷ 21, Nhật Bản dự định chuyển mình từ “vương quốc của các tập thể” thành “vương quốc của các cá nhân”. Điều này đòi hỏi phải điều chỉnh các chuẩn mực đạo đức truyền thống và trau dồi tính tự chủ cá nhân. Cho đến gần đây, người ta tin rằng Nhật Bản là quốc gia đầu tiên chứng minh rằng hiện đại hóa không nhất thiết có nghĩa là Tây hóa, từ bỏ các giá trị châu Á để ủng hộ các giá trị phương Tây. Giờ đây, khi Nhật Bản đang phải trả giá cho việc từ chối chủ nghĩa cá nhân, phương Tây kỳ vọng nước này cuối cùng sẽ chấp nhận mô hình Mỹ. Nhưng xứ sở mặt trời mọc khó có thể trở nên giống như Hoa Kỳ, ngay cả trong thời đại toàn cầu hóa và công nghệ thông tin. Nhật Bản đã từng trải qua những thay đổi trước đây, nhưng luôn theo cách riêng độc đáo của mình, theo kiểu Nhật Bản. Khi tiếp thu điều gì đó từ nước ngoài, Nhật Bản luôn biến tấu nó theo cách riêng của mình. Và theo tôi, lần này cũng sẽ như vậy.

Xem tiếp phần sau: Cuộc cách mạng bạc và những chiếc nôi trống

1 thought on “Cây anh đào và cây sồi (phần 26)

  1. Pingback: Cây anh đào và cây sồi (phần 25) - Phan Phuong Dat

Leave a Reply