Tag Archives: động lực và nhân cách

Quan hệ liên cá nhân tốt đẹp là quan hệ trị liệu tâm lý

Trong sách Động lực và Nhân cách của Maslow có một chương đặc biệt mà tôi rất thích. Đó là Chương 15 với tựa đề Trị liệu tâm lý, sức khỏe và động lực. Trong chương này, tác giả bàn về trị liệu tâm lý từ góc nhìn của lý thuyết động lực, và vai trò của các mối quan hệ liên cá nhân trong trị liệu tâm lý. Một vài ý mà tôi thu hoạch được:

1. Trị liệu tâm lý theo phân tâm học là liệu pháp thấu hiểu (insight), giúp thân chủ nhìn thấy và hiểu được các xung lực, các vấn đề của bản thân mà trước nay họ không nhận ra vì nhận thức của họ bị bóp méo. Để làm được việc này, nhà trị liệu phải được đào tạo rất kỹ và đáp ứng nhiều điều kiện khác nhau, do đó không thể trông chờ vào số lượng các nhà trị liệu giỏi.

2. Ngoại trừ các trường hợp loạn thần kinh, đa số những người cần trị liệu (hay phân tích, hay tư vấn) tâm lý là những người không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản theo lý thuyết Maslow. Đó là các nhu cầu bậc cao hơn, ví dụ cảm giác thân thuộc, được yêu thương, tự tôn, tự hiện thực hóa. Nếu một mối quan hệ trị liệu nghiệp dư có thể giúp họ dần thỏa mãn những nhu cầu này, thì cũng sẽ có kết quả. Và người kia cũng sẽ có sự thấu hiểu hơn về bản thân.

3. Các nhu cầu cơ bản như thân thuộc, tôn trọng, v.v. không thể được thỏa mãn nếu không có những người khác. Không thể thỏa mãn bằng việc tương tác chỉ với thiên nhiên hay động vật. Nhu cầu chỉ được đáp ứng thông qua người khác.

4. Mối quan hệ trị liệu như thế có thể đến từ bất kỳ ai. Thực tế là từ xưa đến nay, khi người ta không hề biết đến, hoặc không thể tiếp cận, nhà trị liệu chuyên nghiệp, thì người ta vẫn tìm đến những nhà tư vấn tâm lý tự phát – một người bạn, một già làng, người bác tốt bụng, thầy giáo được kính trọng, nhà tu hành, v.v. Những người này, không ý thức rằng mình đang trị liệu tâm lý, đã cho người kia cảm giác được lắng nghe, được che chở, tôn trọng, v.v. và rốt cuộc đã “chữa lành”. Như vậy, mọi mối quan hệ liên cá nhân tốt đẹp đều là quan hệ trị liệu tâm lý.

5. Vì vậy, người có nhu cầu trị liệu không nên nhìn nhận trị liệu tâm lý như một việc gì đó bất đắc dĩ, thậm chí đáng xấu hổ, kiểu như phải đi khám chữa bệnh. Thay vào đó, nên tận dụng các mối quan hệ tốt đẹp. Những người có thể trị liệu không chuyên cho người khác thì nên tìm cách tự đào tạo, để thấu hiểu và có thể làm tốt hơn.

6. Khi đó, các nhu cầu về trị liệu sẽ được giải quyết ở quy mô rộng, các nhà trị liệu chuyên nghiệp có thể dành công sức cho những ca khó, ví dụ cho những trường hợp loạn thần kinh, khi mà trong họ các nhu cầu cơ bản bị thay thế bởi các nhu cầu quái lạ sinh ra do loạn thần kinh.

Đọc xong chương này và sách này, tôi thấy tự tin hơn trong việc có thể hỗ trợ về tâm lý cho những người có nhu cầu và muốn được tôi giúp đỡ. Theo Maslow, khi đó tôi đang tham gia vào lực lượng thiện lành, góp phần bé nhỏ giúp làm giảm tình trạng rối loạn tâm lý trong xã hội. Có thể đó cũng là một nhu cầu tự hiện thực hóa của tôi.

Tất cả mọi người, các bố mẹ, các thầy cô giáo, v.v. nếu muốn đều có thể tự học để trở thành một nhà trị liệu nghiệp dư như vậy, để giúp đỡ hiệu quả cho những người thân quen của mình, nhất là trong bối cảnh gia tăng của các trường hợp cần được hỗ trợ.

Cách hiệu quả để làm hỏng nhân viên

Có một người thích yên tĩnh dọn đến ở một nơi rất vừa ý. Nhưng rồi một ngày người ta xây trường học ở gần đó. Ngày ngày bọn trẻ tan trường đi ngang qua nhà anh ta, vừa đi vừa đá lon, gõ thùng rác ầm ĩ. Người kia khuyên hay dọa thế nào tụi nhỏ cũng không nghe.

Anh ta nghĩ ra một kế, bèn gọi bọn nhóc lại và bảo, chú cho mỗi đứa 1$ / ngày, chúng mày đi dọc phố và khua ầm ĩ lên. Sau một tuần, lại bảo, tình hình làm ăn khó khăn, giờ chỉ trả 50 xu thôi. Bọn trẻ không vui nhưng vẫn nhận lời. Tuần sau anh ta đề nghị giảm còn 20 xu, bọn nhóc tự ái, từ chối không chịu làm ồn nữa. Thế là anh ta lại được yên tĩnh.

Có thể câu chuyện hư cấu, nhưng đúng về mặt tâm lý. Việc được trả tiền đủ lâu sẽ khiến người ta vô thức đánh giá về giá trị công sức của mình, và sẽ cảm thấy bị thấp kém nếu làm việc đó mà không nhận được phần thưởng nữa. Động lực bên ngoài đã triệt tiêu mất động lực tự thân, hành vi biểu đạt biến thành hành vi có mục đích.

Mặc dù không cố ý, nhưng các lãnh đạo hay khiến những câu chuyện giống như vậy xảy ra trong tổ chức của mình. Nếu được trả tiền để tổ chức vui chơi, thì rồi khi hết tiền người ta sẽ không tổ chức nữa. Nếu được thưởng để đi học hay đi hội thảo, thì khi người ta sẽ bỏ khi không còn thưởng. Khi đó, sẽ phải mất nhiều thời gian để khôi phục lại tính tự phát. Một lý do cho sai lầm trên là các lãnh đạo sốt ruột và muốn có kết quả nhiều và ngay. Đưa phần thưởng ra là số nhân viên đi học tăng vọt, số đề xuất cải tiến tăng vọt, để rồi được một vài năm thì mọi thứ còn trở nên tệ hơn trước. Vì vậy, cách bền vững hơn (nhưng mất công hơn) là xây dựng môi trường động lực tự phát, thay vì các loại phong trào rùm beng, chóng bùng lên nhưng cũng chóng lụi tàn.

PS. Trong sách Động lực và Nhân cách, Maslow có viết một chương (Ch10) về thành phần biểu đạt của hành vi.