Thử giải thích về Tết cổ truyền bằng lý thuyết của Maslow

Theo các nhà nhân học văn hóa, mỗi nghi lễ truyền thống đều có chức năng đáp ứng một số nhu cầu nào đó của cộng đồng, tuy nhiên dần dần cái nhu cầu gốc ấy bị ẩn đi, mọi người chỉ còn nhìn thấy cái hình thức đáp ứng nhu cầu – chính là nghi lễ, và ngầm tin rằng đó chính là nhu cầu.

Nếu nhìn thấy mối quan hệ nhu cầu – hình thức đáp ứng trên, thì người ta có thể thay thế nghi lễ (hình thức) mà vẫn đáp ứng được nhu cầu vô thức của cộng đồng, do đó được cộng đồng chấp nhận. Có câu chuyện như vậy về thổ dân Maasai ở châu Phi. Theo truyền thống, thanh niên Maasai phải giết một con sư tử để được coi là đã trưởng thành. Nghi lễ này trở nên không thể duy trì trong xã hội hiện nay, nhưng tất cả mọi biện pháp ngăn cấm đều vô hiệu. Sau khi thấu hiểu rằng nhu cầu thực sự của người Maasai ko phải là giết sư tử, mà là khẳng định địa vị của mình trong con mắt cộng đồng, người ta đã khéo léo thay nghi lễ trên bằng việc chăm nom sư tử. Ngày nay, thanh niên Maasai đi tìm sư tử, đặt tên và nhận chăm lo nó, và được cộng đồng (bao gồm các cô gái) ngưỡng mộ.

Nói về nhu cầu thì phải nói đến tháp Maslow. Ổng xác định các nhu cầu cơ bản của con người và gọi chúng là dạng bản năng (instinctoid). Gọi thế vì chúng vừa giống vừa hơi khác so với khái niệm bản năng mà mọi người thường hiểu – bản năng kiểu động vật. Giống ở chỗ chúng là bẩm sinh chứ không do văn hóa, không do học được. Khác ở chỗ chúng yếu ớt và có xu hướng bị đè nén bởi văn hóa, nhất là các nhu cầu bậc cao hơn, trong khi bản năng động vật thì rất mạnh. Các nhu cầu này được xếp thành tháp 5 tầng, ngoài ra còn nhu cầu về nhận thức và nhu cầu thẩm mỹ không xếp vào tháp mà để bên cạnh (có một số nguồn xếp chúng thành các tầng cao của tháp, là không đúng).

Sự thôi thúc đáp ứng các nhu cầu này chính là động lực. Cái hay là ổng chia thành 2 loại động lực: động lực vì thiếu hụt và động lực vì tăng trưởng. Khi các nhu cầu như sinh lý, an toàn, yêu thương, tự trọng, v.v. bị thiếu hụt, thì ta có động lực để tìm cách thỏa mãn chúng. Đó là động lực vì thiếu hụt, chúng rất mạnh mẽ và như nhau với mọi người.

Động lực vì tăng trưởng (growth motivation) thì dành cho nhu cầu cao nhất – tự hiện thực hóa (self-actualization). Ở đây không còn sự thiếu hụt nữa – nhiều người không hề có nhu cầu này và sống tốt. Những người tự hiện thực hóa, ngay cả khi đã được thỏa mãn tương đối mọi nhu cầu, vẫn tìm cách hiện thực hóa tối đa khả năng của bản thân, tiến đến full humanness như chữ dùng của Maslow. Rõ ràng động lực vì tăng trưởng có tính cá nhân riêng, mỗi người mỗi kiểu, và không thúc đẩy mạnh bằng động lực vì thiếu hụt.

Theo tôi, Tết cổ truyền vốn là một động lực vì thiếu hụt, nhằm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản còn chưa được thỏa mãn. Cả năm không được ăn ngon, không được mặc đẹp, không có thời gian tâm sự, thể hiện yêu thương, v.v. Các nhu cầu như sự thuộc về (kết nối), yêu thương, tự tôn (được hãnh diện với mọi người, được thể hiện vai vế), và có lẽ cả nhu cầu thẩm mỹ, đều chờ đến Tết để được lấp đầy. Vì thế mà mọi người đều trông mong và yêu quý Tết.

Xã hội phát triển và đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trên ở mức hàng ngày. Ngày nào ăn cũng ngon, mặc cũng diện. Thích lúc nào video call lúc đó, nên nhu cầu “đoàn tụ” nhạt nhòa đi. Tết không còn là động lực vì thiếu hụt nữa, và không thể giữ vai trò cũ nữa.

Vậy thì, có thể biến Tết thành động lực vì phát triển, và trên thực tế nhiều người đã làm đúng như vậy. Ai thích thiên nhiên thì đi phượt, thích chế đồ thì hì hụi làm, thích học thích đọc thì tha hồ học. Có điều, nhu cầu tự hiện thực hóa được thỏa mãn theo những cách rất riêng của mỗi cá nhân, nên sẽ không có nhiều tính cộng đồng trong đó, và những ai không có nhu cầu này thì thấy buồn chán và nuối tiếc, đôi khi lại nghĩ là lỗi tại những người kia – ví dụ muốn thể hiện vai vế, mà người khác không có mặt. Theo tôi, nếu tiếp tục tìm hiểu và thay đổi các hoạt động Tết theo cách này, có thể làm mới nó để phục vụ các nhu cầu cao hơn của mọi người.

Leave a Reply