New Big Five: một lý thuyết động về tâm lý học nhân cách (personality)

Trước nay khi nói về tâm lý học nhân cách, người ta hay nhảy ngay vào các mô hình phân chia con người thành các nhóm khác nhau. Ví dụ chia theo kiểu Jung, Allport, MBTI, Big Five (OCEAN) hay vô số kiểu khác. Phương Đông cũng chia theo mệnh Ngũ hành, và xác định đặc tính cho những người thuộc một mệnh nào đó. Các mô hình này đều tĩnh, không giải thích được quá trình hình thành nên nhân cách.

Lưu ý từ “nhân cách” ở đây được hiểu là tập hợp các đặc tính của một nhóm người, không phải là hiểu từ góc độ đạo đức như trong câu “người có nhân cách” (humanity). Có hai hình thức xếp loại nhân cách: kiểu (type) và xu hướng (nét – trait). Kiểu Nhân cách (Personality Type) là xếp vào các giỏ riêng biệt, hoặc trắng hoặc đen. Xu hướng Nhân cách (Personality Trait) là vẽ một trục thẳng có hai cực, một cực trắng và một cực đen, rồi xếp người ta vào giữa hai cực, tức là định lượng kiểu 63% đen. MBTI là mô hình kiểu nhân cách, OCEAN là mô hình xu hướng nhân cách gồm năm trục. Hình thức xếp theo xu hướng nhân cách, trên một trục thẳng, là đúng với thực tế hơn so với việc phân cực.

Các lý thuyết trên có điểm dở là mỗi cái một nguyên lý, không liên quan gì đến nhau, đều nhảy bụp một phát vào chia con người ta thành các loại mà không giải thích được quá trình hình thành nên nhân cách.

Năm 2006, McAdams và Pals đề xuất một lý thuyết về tâm lý học nhân cách, cũng bao gồm năm nguyên tắc nên được gọi là New Big Five. Khác với các lý thuyết kể trên, các tác giả đề xuất một mô hình động (dynamic) và tích hợp, giải thích được sự hình thành nhân cách của một người. Việc chia người ta thành các Xu hướng Nhân cách chỉ là một yếu tố trong mô hình này.

Ta sẽ lần lượt đi qua các nguyên tắc và xem chúng tương tác với nhau thế nào.

Sơ đồ mô hình của McAdams và Pals (2006)

1. Bản chất con người: một thiết kế tổng thể được phát triển trong quá trình tiến hóa.

Nguyên tắc đầu tiên là tất cả chúng ta là cùng một loài, cùng trải qua quá trình tiến hóa và cùng chia sẻ nhiều đặc điểm tâm lý, ví dụ khả năng có các cảm xúc giống nhau. Như vậy tâm lý học phải bắt đầu từ tiến hóa.

Nguyên tắc này cho thấy, bất kỳ ai cũng giống tất cả mọi người.

2. Các Xu hướng Nhân cách.

Các Xu hướng nhân cách là các trục thẳng hai cực, có thể dùng để so sánh mọi người với nhau. Xu hướng Nhân cách là vô điều kiện và không phụ thuộc bối cảnh, tức là bất kỳ ai dù sống trong thời đại hay quốc gia nào cũng có thể xếp vào đó. Như vậy, xu hướng nhân cách của một người là bẩm sinh (tức là tính khí – temperament). Các xu hướng nhân cách có các đặc điểm sau:

  • thường cho phép dự báo hành vi. Ví dụ người nóng tính sẽ quát tháo khi gặp tình huống khó chịu
  • thường ổn định, ít thay đổi khi người ta lớn lên và già đi
  • có tính kế thừa qua các thế hệ: con cái có xác suất cao là giống bố mẹ

Trong các mô hình Xu hướng Nhân cách, mô hình Big Five được chấp nhận rộng rãi.

Nguyên tắc này cho thấy, bất kỳ ai cũng giống một số người.

3. Điều chỉnh tính cách

Có thể thấy, hai người cùng chung Xu hướng Nhân cách vẫn có thể phát triển nên các tính cách (hay cá tính – character) khác nhau. Đó là vì họ đã tự điều chỉnh bản thân thông qua những thứ như mục đích cuộc sống, động lực, đức hạnh, nỗ lực, v.v. Nếu tính khí là thứ cho trước, thì tính cách là thứ mà người ta phát triển cho riêng mình, không giống ai.

Nguyên tắc này cho thấy, ai cũng khác tất cả những người khác.

Gộp cả ba nguyên tắc trên, ta nhận được câu nói của nhà nhân học Clyde Kluckhohn: “ai cũng giống tất cả mọi người, giống một số người, và không giống ai cả.”

4. Tự sự về cuộc sống của bản thân

Nếu ba nguyên tắc trên mô tả nhân cách một người đối với bên ngoài, thì nguyên tắc thứ tư liên quan đến hình ảnh của người đó với bản thân. Trong quá trình sống, chúng ta xây dựng cuộc sống của mình theo những câu chuyện mà ta tự kể cho mình, và những câu chuyện cuộc sống này sẽ định hình hành vi của ta, định hình căn tính của ta trong xã hội.

Minh họa cho nguyên tắc này là khái niệm “kiểu giải thích” (explanatory style) trong tâm lý học tích cực của Martin Seligman. Ví dụ hai người cùng thi kém, một người tự sự “mình không đến nỗi kém, chỉ là không chuẩn bị cẩn thận, lần sau sẽ phải cẩn thận hơn” còn người kia nghĩ “mình thật tệ, làm gì cũng hỏng, sống chẳng ích gì”. Hai tự sự này sẽ dẫn đến những hành vi, và số phận, khác nhau.

5. Văn hóa: các hệ thống và các thông lệ góp phần định hình ý nghĩa của cuộc sống và hành vi

Văn hóa là môi trường xã hội tác động vào các yếu tố trên (chỉ trừ yếu tố tiến hóa), qua đó ảnh hưởng đến việc người ta thiết kế cấu trúc nhân cách cho mình.

  • Xu hướng Nhân cách: tuy các Xu hướng Nhân cách là phổ quát giữa các nền văn hóa, nhưng biểu hiện của nó có thể khác nhau.
  • Điểu chỉnh tính cách: các văn hóa khác nhau có thể khuyến khích và bài trừ các giá trị khác nhau. Ví dụ có văn hóa đề cao tự do cá nhân, có văn hóa đề cao đức hạnh và hy sinh. Có thể tham khảo các nghiên cứu liên văn hóa như của Hofstede.
  • Tự sự về cuộc sống: Văn hóa cung cấp một danh mục các câu chuyện để noi gương. Ví dụ câu chuyện về người hùng, hay câu chuyện về người nhân hậu, v.v.

Mức độ tác động của văn hóa lên các yếu tố 2-3-4 là từ yếu đến mạnh. Mạnh nhất là tác động lên tự sự, vì người ta có xu hướng giải thích cuộc sống của bản thân theo các giá trị của nền văn hóa đó. Trên sơ đồ, mức độ tác động thể hiện qua độ dày của mũi tên.

Cuối cùng, các yếu tố 2-3-4 tương tác hàng ngày với môi trường sống, và ảnh hưởng qua lại với nhau.

Ta có thể sử dụng mô hình New Big Five này để hiểu bản thân và những người mà ta quan tâm, và từ đó có thể có những điều chỉnh hiệu quả.

Leave a Reply