Author Archives: Phan Phuong Dat

Levi-Strauss. Ba thế hệ của thuyết nhân văn

“Les Trois humanismes”. Xuất bản lần đầu trên tạp chí Demain (1956, số 35). Được xuất bản bằng tiếng Nga trong tạp chí “Niên giám của Hiệp hội Triết học Liên Xô”, 1987-1988. Bài này dịch từ bản tiếng Nga.

Tiêu đề bài có thể được dịch là “ba làn sóng” hoặc “ba thế hệ” của chủ nghĩa nhân văn (thuyết nhân văn), vì nói đến ba hình hệ nối tiếp nhau trong nghiên cứu về văn hóa con người.

Đối với hầu hết chúng ta, nhân học dường như là một ngành khoa học mới, là bằng chứng về sự tò mò tinh tế của con người hiện đại. Trong lĩnh vực thẩm mỹ của chúng ta, các tác phẩm nghệ thuật sơ khai mới chỉ có vị trí cách đây chưa đầy năm mươi năm. Bản thân sự quan tâm đến các xã hội nguyên thủy thì có nguồn gốc xưa hơn một chút – các công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về lĩnh vực này xuất hiện khoảng năm 1860, tức là vào thời đại mà Charles Darwin đặt ra vấn đề tiến hóa trong lĩnh vực sinh học. Sự tiến hóa này, theo những người cùng thời với ông, cũng phản ánh sự tiến hóa của con người về mặt xã hội và tinh thần.

Continue reading

Phân biệt: văn hóa học và nhân học văn hóa

Văn hóa học (Culturology, Культурология) được đề xuất như một ngành khoa học độc lập trong các ngành khoa học xã hội. Khái niệm này tuy được đề xuất bởi một nhà nhân học Mỹ, nhưng không được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và châu Âu, mà có lẽ chỉ phổ biến ở Nga. Ở Anh, lĩnh vực tương đương được gọi là Cultural Studies (xem ở dưới).

Ở Nga, thuật ngữ “Văn hóa học” để chỉ khoa học về văn hóa đã được đưa vào nghiên cứu về văn hóa vào đầu những năm 1990. Nó bao gồm các vấn đề mang tính khái niệm cơ bản về lý thuyết và lịch sử văn hóa, cũng như các ngành khoa học riêng biệt về các loại hình và hiện tượng khác nhau của văn hóa và của đời sống văn hóa của con người.

“Văn hóa học” nghiên cứu văn hóa với tư cách là một khoa học thống nhất, bao gồm các lĩnh vực nghiên cứu về: lịch sử của văn hóa, triết học về văn hóa, v.v. và cả Nhân học Văn hóa. Trong số đó, ngành khoa học cơ bản được coi là Nhân học Văn hóa.

Gần đây, các tác giả Nga có xu hướng sử dụng thuật ngữ Nhân học Văn hóa thay cho “Văn hóa học”. Ví dụ, tác giả A.A. Belik đã viết cuốn sách giáo khoa đại học năm 1998 có tên là “Văn hóa học. Các lý thuyết nhân học văn hóa” (Белик А. А. Культурология. Антропологические теории культур) *, nhưng đến năm 2009, tác giả ra phiên bản mới có tên là “Nhân học Văn hóa (Nhân học Xã hội)” (Культурная (социальная) антропология), và trong sách không hề nhắc đến từ culturologia nữa.

Nghiên cứu Văn hóa (Cultural Studies) được cho là cách gọi khác của “Văn hóa học” và được sử dụng ở Anh. Đó là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành, nghiên cứu các hiện tượng văn hoa đương đại, bao gồm cả văn hóa đại chúng (pop). Nghiên cứu Văn hóa quan tâm tìm hiểu quan hệ của các hoạt động văn hóa với các hệ thống quyền lực gắn với, hoặc thực hiện thông qua, các hiện tượng xã hội. Ví dụ hệ tư tưởng, cấu trúc giai cấp, sắc tộc, v.v.

Như vậy, có thể hiểu Văn hóa học tương đương Nghiên cứu Văn hóa và bao trùm Nhân học Văn hóa. Tại sao Nhân học Văn hóa (Cultural Anthropology) được coi là khoa học cơ bản trong số các ngành nghiên cứu về văn hóa? Bởi vì văn hóa gắn với cộng đồng người, và để hiểu nguồn gốc, bản chất và các quy luật (nếu có) của văn hóa, người ta phải nghiên cứu những cộng đồng người từ lúc sơ khai và trong một thời gian dài. Từ đó họ mới tìm ra và đề xuất các thuyết phổ quát như tiến hóa, phán tán, chức năng hay cấu trúc, của văn hóa, rồi từ đó giải thích các hiện tượng văn hóa chứ không chỉ mô tả chúng. Vì vậy Nhân học Văn hóa là bước phát triển của Dân tộc học (Ethnography).

Có thể nói, Nhân học Văn hóa nghiên cứu tâm lý của cộng đồng người, giống như Tâm lý học nghiên cứu tâm lý của một cá nhân. Và nếu các kết quả Tâm lý học cho phép ta mô tả, giải thích, dự báo và thay đổi hành vi của con người, thì Nhân học Văn hóa cũng sẽ phải mô tả, giải thích, dự báo được các hiện tượng văn hóa, và xác định những hành động có thể làm để thay đổi văn hóa.

(*) Quyển này được dịch ra tiếng Việt năm 1999, nằm trong Tủ sách Văn hóa học của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy và các cộng sự.

C. Lévi-Strauss. Cấu trúc luận và Sinh thái (4/4)

Bài báo này là bản ghi lại một bài giảng của C. Levi-Strauss bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ vào năm 1972 cho sinh viên tại Đại học Barnard. Ấn bản đầu tiên: Structuralism and Ecology: Geedersleeve lecture, delivered at Barnard College, March 28 // Barnard Alumnae, Spring 1972, p. 6—14. Tái bản năm 1973 (bằng tiếng Anh) tại Paris; bản dịch sang tiếng Pháp được Lévi-Strauss đưa vào tuyển tập các bài báo Le regard eloigne. Paris: Plon, 1983.

Continue reading

C. Lévi-Strauss. Cấu trúc luận và Sinh thái (3/4)

Bài báo này là bản ghi lại một bài giảng của C. Levi-Strauss bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ vào năm 1972 cho sinh viên tại Đại học Barnard. Ấn bản đầu tiên: Structuralism and Ecology: Geedersleeve lecture, delivered at Barnard College, March 28 // Barnard Alumnae, Spring 1972, p. 6—14. Tái bản năm 1973 (bằng tiếng Anh) tại Paris; bản dịch sang tiếng Pháp được Lévi-Strauss đưa vào tuyển tập các bài báo Le regard eloigne. Paris: Plon, 1983.

Continue reading

C. Lévi-Strauss. Cấu trúc luận và Sinh thái (2/4)

Bài báo này là bản ghi lại một bài giảng của C. Levi-Strauss bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ vào năm 1972 cho sinh viên tại Đại học Barnard. Ấn bản đầu tiên: Structuralism and Ecology: Geedersleeve lecture, delivered at Barnard College, March 28 // Barnard Alumnae, Spring 1972, p. 6—14. Tái bản năm 1973 (bằng tiếng Anh) tại Paris; bản dịch sang tiếng Pháp được Lévi-Strauss đưa vào tuyển tập các bài báo Le regard eloigne. Paris: Plon, 1983.

Continue reading

C. Lévi-Strauss. Cấu trúc luận và Sinh thái (1/4)

Bài báo này là bản ghi lại một bài giảng của C. Levi-Strauss bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ vào năm 1972 cho sinh viên tại Đại học Barnard. Ấn bản đầu tiên: Structuralism and Ecology: Geedersleeve lecture, delivered at Barnard College, March 28 // Barnard Alumnae, Spring 1972, p. 6—14. Tái bản năm 1973 (bằng tiếng Anh) tại Paris; bản dịch sang tiếng Pháp được Lévi-Strauss đưa vào tuyển tập các bài báo Le regard eloigne. Paris: Plon, 1983.

Continue reading

Lưỡi hái của Thần Chết

– Anh là thợ rèn?

Giọng nói đằng sau vang lên bất ngờ đến nỗi V rùng mình. Hơn nữa, anh không nghe thấy tiếng cửa mở và có người đi vào trong.

– Phải gõ cửa chứ? Anh trả lời một cách thô lỗ, hơi phát bẳn với cả bản thân lẫn người khách nhanh nhẹn.

– Gõ cửa à? Hmm… Tôi chưa thử bao giờ – khách cất giọng trả lời. – Ý hay! Từ giờ tôi sẽ gõ cửa mỗi khi đến.

Continue reading

Bốn loại cha mẹ vị kỷ và ảnh hưởng đến con cái

Nếu trẻ lớn lên trong một gia đình có cha mẹ vị kỷ (egocentric), thì khi trưởng thành, chúng có khả năng phải đối mặt với những hậu quả tiêu cực kéo dài của mối quan hệ không lành mạnh này. Nhà trị liệu tâm lý Nina Brown đưa ra những công cụ thiết thực để giúp bạn nhận ra những hậu quả này. Cuốn sách của Brown “Họ sẽ KHÔNG thay đổi” nói về phản ứng của trẻ em đối với các kiểu nuôi dạy con khác nhau.

Continue reading

15 dấu hiệu trưởng thành về tâm lý – theo Maslow

Sự trưởng thành về tâm lý (psychological maturity) là một thành phần quan trọng để đánh giá trạng thái tâm trí (psyche) của bạn. Sự trưởng thành giúp bạn phát huy hết khả năng và tài năng, đem lại sự thăng hoa cả về tinh thần và vật chất. Danh sách này sẽ rất hữu ích cho những ai yêu thích những món ăn trí tuệ chất lượng cao, vì nó hỗ trợ mạnh mẽ cho sự phát triển trí tuệ.

Bản thân Abraham Maslow tin rằng những người có những phẩm chất dưới đây chỉ chiếm 1% dân số, và là loại “người chất lượng cao” (quality person) – lành mạnh về mặt tâm lý và thể hiện tối đa bản chất nhân văn của con người.

15 dấu hiệu của một nhân cách trưởng thành, theo Abraham Maslow:

  1. Có tri giác (perception) đúng đắn hơn về thực tế, không bị ảnh hưởng bởi những nhu cầu thiết yếu, khuôn mẫu hay định kiến. Quan tâm đến những điều chưa biết.
  2. Chấp nhận bản thân và những người khác như họ vốn có. Không có các loại hành vi giả tạo hay có tính săn mồi, và khước từ các hành vi đó của người khác.
  3. Các biểu hiện mang tính tự phát, đơn giản và tự nhiên. Tuân thủ các nghi thức, truyền thống và nghi lễ, nhưng đối xử với chúng bằng một khiếu hài hước thích hợp. Đây không phải là hành vi máy móc, mà là việc tuân thủ có ý thức, ở cấp độ hành vi thể hiện ra bên ngoài.
  4. Tập trung vào việc. Những người này thường không bận tâm về bản thân, mà về mục đích cuộc sống của họ. Thông thường họ tương đồng hoạt động của mình với các giá trị phổ quát, và có xu hướng xem xét nó từ góc độ dài lâu (vĩnh cửu – eternity) hơn là ở thời điểm hiện tại. Vì vậy, ở một mức độ nào đó, họ đều là những triết gia.
  5. Tách mình ra khỏi mối liên quan với nhiều sự kiện. Điều này giúp họ vượt qua những rắc rối một cách tương đối bình tĩnh và ít bị ảnh hưởng từ bên ngoài. Họ thường thích cô đơn.
  6. Tự chủ và độc lập với môi trường, ổn định trước ảnh hưởng của các yếu tố gây khó chịu.
  7. Luôn làm mới tri giác (perception): mỗi lúc lại tìm ra gì đó mới trong cái đã biết.
  8. Có những trải nghiệm tột cùng, đặc trưng bởi cảm giác về sự biến mất của bản thân.
  9. Có ý thức cộng đồng đối với toàn nhân loại như một thực thể.
  10. Kết bạn với những người khác cũng ở nhóm tự hiện thực hóa bản thân (self-actualization): một số ít những người có quan hệ rất sâu. Không có sự thù địch trong tương tác giữa các cá nhân.
  11. Dân chủ trong mối quan hệ. Sẵn sàng học hỏi từ người khác.
  12. Có chuẩn mực đạo đức nội tại ổn định. Cảm nhận rõ điều thiện và điều ác: chúng hướng tới mục tiêu, và các phương tiện luôn tuân theo chúng.
  13. Có khiếu hài hước “triết học”. Thái độ hài hước với cuộc sống nói chung và với bản thân, nhưng sự kém cỏi hay nghịch cảnh của ai đó không bao giờ bị coi là nực cười.
  14. Có tính sáng tạo không chỉ trong những gì họ làm, và được thể hiện trong tất cả các hành động của họ.
  15. Có thái độ phê phán đối với nền văn hóa mà họ thuộc về: cái tốt được lựa chọn và cái xấu bị từ chối. Cảm thấy là đại diện của nhân loại nói chung hơn là của một nền văn hóa cụ thể.

Dịch từ nguồn.