Author Archives: Phan Phuong Dat

Phân biệt: khả năng, năng lực, kỹ năng, tài năng

Khả năng (ability)

Là từ chung nhất, thể hiện việc một người có thể làm và hoàn thành một việc nào đó. Việc đó có thể rất nhỏ, là một kỹ năng hay thậm chí một phần của kỹ năng (sub-skill); và cũng có thể rất to. Ví dụ khả năng làm cách mạng.

Khi nói đến việc lớn, khả năng thường bao gồm cả ý chí, thái độ – là những thứ cần thiết bên cạnh năng lực để có thể làm xong việc. Khả năng có nghĩa rộng, nên có thể áp dụng không chỉ cho cá nhân mà còn cho một nhóm: “khả năng của công ty chúng ta”.

Tài năng (talent)

Tài năng là những đặc tính (quality) đặc biệt, bẩm sinh, không thể có được chỉ bằng cách học. Chúng cũng đươc gọi là khả năng đặc biệt. Ví dụ khả năng tưởng tượng. Nếu vẽ là kỹ năng cứng, thì cộng với tài năng tưởng tượng, “nhìn” sự vật theo cách đặc biệt, có thể cho ra một danh họa.

Tài năng cần được học tập để trở thành kỹ năng, để tạo ra một khả năng làm ra những sản phẩm xuất sắc. Ví dụ có người có tài viết nhưng không đủ kỹ năng thì chỉ lóe sáng chứ không trở thành nhà văn xuất chúng với sự nghiêp đồ sộ được.

Kỹ năng (skill)

Là đơn vị nhỏ nhất, chỉ ra một người có thể làm được việc gì đó. Vì là đơn vị cơ bản, nên người ta có thể liệt kê danh sách các kỹ năng và tìm cách dạy. Kỹ năng có thể chia làm hai loại:

Kỹ năng cứng là kỹ năng làm việc với các sự vật, tức là có tính chất kỹ thuật. Có thể đánh giá được.

Kỹ năng mềm là kỹ năng làm việc với tâm lý con người. Khác với đồ vật, ta không thể tác động trực tiếp lên con người, mà chỉ có thể tạo ảnh hưởng đến họ để mong họ làm điều ta muốn. Vì thế, kỹ năng mềm khó đánh giá và phụ thuộc vào tình huống cụ thể. Ví dụ, một người được coi là có kỹ năng đàm phán giỏi có thể không thành công trong tình huống mà người có kỹ năng đàm phán kém hơn lại ăn, vì cùng có sở thích với đối phương.

Trong những tình huống làm việc với con người nhưng không phải với tâm lý, thì ta nói về kỹ năng cứng. Ví dụ kỹ năng phẫu thuật.

Kỹ năng mềm có thể chia làm 2 nhóm:

  • Kỹ năng làm việc với tâm lý người khác: thuyết trình, đàm phán, lãnh đạo, v.v.
  • Kỹ năng làm việc với tâm lý bản thân: quản lý thời gian, quản lý cảm xúc, áp lực, v.v.

Năng lực (competency)

Năng lực là khả năng làm một việc gì đó chung hơn, khó xác định rõ ràng hơn so với kỹ năng. Ví dụ năng lực tư duy độc lập, năng lực xác định và giải quyết vấn đề. Nó đòi hỏi kết hợp nhiều kiến thức, kỹ năng và cả thái độ tiếp cận vấn đề.

Như vậy, năng lực là khái niệm trừu tượng hơn so với kỹ năng. Năng lực không thể dạy trực tiếp được, mà phải gián tiếp thông qua các kỹ năng cứng, mềm và môi trường thực hành phù hợp. Ví dụ năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực nghiên cứu khoa học.

Ghi chú

Các khái niệm trên không có định nghĩa chặt chẽ. Trên đây chỉ là một cách giải thích nhằm cung cấp thêm một cách phân biệt hữu ích.

Phân biệt: cảm giác, cảm thấy, tri giác, nhận thức

Một số trong các từ này được dùng để chỉ các khái niệm khác nhau, do đó cần cố gắng phân biệt, nhất là khi đả động đến thuật ngữ tâm lý học. Để sắp xếp chúng vào trật tự, ta có thể bắt đầu bằng các động từ tiếng Anh.

Feel và Sense

Đều được dịch là cảm nhận, cảm giác, cảm thấy. Feel khác Sense ở chỗ:

  • Sense là cảm nhận bằng các giác quan, đôi khi ám chỉ các giác quan thứ sáu (với nghĩa đánh hơi, “ngửi” thấy gì đó mơ hồ)
  • Feel là cảm thấy bằng tâm trí, ví dụ cảm thấy vui, buồn.

Tiếng Trung đều được dịch là 感觉 (cảm giác), tiếng Nga là чувствовать ощущать. Hai từ tiếng Anh này có thể cùng dịch ra một từ tiếng Việt, không cần phân biệt.

Sense và Perceive

Sense là cảm nhận bằng một giác quan cụ thể, và do đó chỉ cảm nhận được một phần của sự vật. Perceive là cảm nhận sự vật một cách toàn vẹn, thông qua một hoặc vài giác quan.

Ví dụ bạn sense thấy mùi cafe, còn perceive tách cà phê thông qua mùi, hình ảnh, cảm giác nóng khi chạm vào. Bạn cũng có thể perceive được tách cà phê chỉ bằng khứu giác, hình dung ra các yếu tố còn lại từ kinh nghiệm.

Perceive tiếng Trung là 感知 (cảm tri), tiếng Nga là воспринимать. Tiếng Việt, perceive thường được dịch là nhận thức, lĩnh hội. Từ điển tâm lý và wikipedia tiếng Việt thì dịch là tri giác, tuy nhiên từ “tri giác” có lẽ không phù hợp là động từ.

Vì vậy, đề xuất dịch perceivecảm tri, và perception là tri giác. Từ “nhận thức” tuy hay được sử dụng, nhưng thật ra nên dùng để chỉ khái niệm khác.

Perceive và Cognize (Perception và Cognition)

Từ cognition mới nên được dịch là nhận thức. Cognition khác Perception ở chỗ, cognition là quá trình tư duy về sự vật, bao gồm nhiều thao tác mà Perception chỉ là một trong số đó: trí nhớ, liên tưởng, nhận dạng kiểu hình (pattern recognition), v.v. Kết quả của Cognition là một nhận thức ổn định lâu dài.

Cognition tiếng Trung là 认识 (nhận thức), tiếng Nga là познание.

Kết luận

Feel, Sense dịch là cảm giác, cảm thấy, cảm nhận.
Perceive dịch là cảm tri. Perception là tri giác. Khi sử dụng nên đi kèm từ tiếng Anh.
Cognition là nhận thức / sự nhận thức.


Quy chế hoạt động của FUNiX Mentor

Tại FUNiX, mentor là các kỹ sư, giảng viên trong lĩnh vực CNTT. Công việc chủ yếu của họ là giải đáp các câu hỏi của học viên, thường là bằng chatting. Họ cũng tham gia chấm bài, hỏi thi vấn đáp, phụ đạo cho học viên, và một số việc khác.

Đặc thù tương tác này làm nảy sinh một số vấn đề, và đòi hỏi một quy tắc làm việc mới, do đó FUNiX đã xây dựng Code of Conduct cho các mentor. Xin chia sẻ với cộng đồng để những ai quan tâm có thể tham khảo.

Dạy Văn hóa Doanh nghiệp là dạy gì?

Văn hóa của một tổ chức cũng giống như tính cách tâm lý của một người. Nếu không hiểu về tâm lý học mà cứ tìm cách học theo thần tượng này khác thì không ăn thua. Nếu ko hiểu về VHDN (văn hóa doanh nghiệp, hay văn hóa của tổ chức nói chung) mà chỉ nghe kể chuyện về các công ty này khác để học theo cũng ko hiệu quả.

Cách tốt nhất để dạy VHDN là hiểu về cấu trúc và nguyên lý của nó. Sau đó, bạn có thể chiêm nghiệm và áp dụng vào một trường hợp cụ thể. Cũng như nếu hiểu về tâm lý học, bạn sẽ giúp bản thân và mọi người hiệu quả hơn.

Continue reading

Pavel Durov: “Mỗi chúng ta đều có cơ hội hiện thực hóa bất kỳ ý tưởng nào”

Những câu nói ấn tượng của tỷ phú công nghệ duy nhất của Nga, cha đẻ của Vkontakte và Telegram, ngôi sao công nghệ đầy cá tính. Chắc chắn ai cũng thu nhận được gì đó cho bản thân, nhất là các bạn trẻ.

Continue reading

Khái niệm: stock và flow trong truyền thông

Giới thiệu: tôi đọc quyển Show Your Work! của Austin Kleon (tiêu đề bản dịch tiếng Việt là Nghệ thuật PR bản thân) thấy giới thiệu khái niệm trữ lượng và lưu lượng (stock and flow) trong truyền thông do Robin Sloan đưa ra. Thấy hay nên đã tìm bài gốc (18/1/2010) và dịch.

Continue reading

Phim khiêu dâm: Khủng hoảng sức khỏe cộng đồng thời đại số

Giới thiệu: ở VN thời gian gần đây, liên tiếp xảy ra các vụ lam dụng tình dục mà trẻ em là nạn nhân. Vấn đề này có thể tiếp cận tìm hiểu từ nhiều góc độ. Bài viết Pornography: The Public Health Crisis of the Digital Age của Psychology Today (ra 9 ngày trước, 15/4/2021) cho ta thêm thông tin và công cụ để tham gia giải quyết vấn đề xã hội phức tạp này, nhất là với phụ huynh của các bé nam.

Continue reading

“Bạn đâu giỏi thế”

Câu này chứa ba vấn đề đối với những người sáng tạo, làm cái mới.

Lần đầu tiên là khi ta bắt đầu, ta không giỏi. Đấy là sự thật. Nếu ai muốn đi tiếp, thì hãy thêm từ “chưa” vào câu.

Chả ích gì nếu giả vờ rằng ta đã tìm ra cách trước khi tìm ra thật. Sẽ phản tác dụng nếu bạn có thái độ cáu kỉnh mong manh khi đối mặt với phê bình. Thực tế là, trong giai đoạn này, “bạn không giỏi đến thế” chính là những gì ta cần nghe, bởi vì nó có thể kèm theo thông tin làm thế nào để tốt hơn.

Lần hai là khi ta đã bắt đầu có kỹ năng và làm ra gì đó có giá trị, một số người sẽ tiếp tục tin rằng ta vẫn không giỏi. OK. Như vậy là họ đang nói với ta điều gì đó về bản thân họ, cũng như những gì họ muốn và cần. Đây là manh mối để ta chuyển sang phục vụ người khác, những người đánh giá và muốn có những gì ta làm. Nhóm khách hàng khả thi nhỏ nhất (smallest viable audience) không phải là một thỏa hiệp lùi bước, mà là một con đường để tiến lên. Hãy tìm những người muốn tham gia, cởi mở và háo hức. Hãy phục vụ họ thay cho những người kia.

Điều nguy hiểm là, khi nghe thấy những lời khước từ trong giai đoạn này, bạn có thể tin rằng mình chẳng làm được gì. Trái ngược với việc nhận ra rằng, chỉ đơn giản là bạn đang nghe nhầm người.

Lần thứ ba là một vòng tròn, một chu kỳ đầy đủ. Bởi vì có thể trên thực tế, ta vẫn chưa giỏi đến mức đó, và chưa có đủ nhiều những người muốn thứ ta làm. Đơn giản là ta chưa đủ tốt cho thị trường này. Vì vậy, ta tiếp nhận sự thật và lại bắt đầu từ đầu. Ta vẫn chưa đủ tốt. Ta chưa thực hành đủ, tìm thấy đủ sự đồng cảm, đủ hiểu thể loại và tìm ra cách đóng góp. Chưa. Ít nhất là đối với nhóm khách hàng này.

Và sau đó, ta trở nên tốt hơn.

Không sớm thì muộn, ba vấn đề này sẽ trở thành ba cột mốc quan trọng trên con đường tạo ra sự khác biệt và làm công việc mà ta tự hào.

Dịch từ Seth Godin. “You’re not that good

Vạn lý lập trình ty: review sau 12 năm

Phi lộ. Anh Nguyễn Thành Nam, tôi và một team đang xây dựng và dạy môn học Understanding FPT Culture – phân tích văn hóa FPT theo lý thuyết của Edgar Schein. Trong phạm vi môn học, FPT Software được lấy làm ví dụ cho sự hình thành và phát triển của một tiểu văn hóa (subculture) bên trong FPT, qua 4 giai đoạn Forming, Storming, Norming và Performing. Theo anh Nam, các giai đoạn đó của FSOFT được hình thành trong các năm: 94-98, 99-2004, 2004-2011 và từ 2011-2021, mỗi giai đoạn đều có những quyết định bước ngoặt.

Continue reading