Author Archives: Phan Phuong Dat

Bỏ qua ganh đua, tập trung vào quá trình

Trong hồi ký, diễn viên Bryan Cranston (Breaking Bad) kể về bước ngoặt tinh thần của anh khi tham gia buổi diễn thử 20 năm về trước. Thông thường, anh và các diễn viên khác sẽ mỉm cười lịch sự với nhau trong khi hồi hộp chờ đến lượt mình. Tất cả mọi người đều tập trung vào kết quả, vì họ đều ở đó để cạnh tranh nhận vai.

Mọi thứ thay đổi khi Bryan bắt đầu tập trung vào quá trình thay vì kết quả. Khi anh ngừng suy nghĩ rằng việc diễn thử chỉ là một công cụ để đạt được mục đích, và bớt suy nghĩ về kết quả cuối cùng, bỗng nhiên anh được tự do để tận hưởng việc mình làm.

“Tôi không đến buổi diễn thử để lấy cái gì cả: công việc, tiền, hay sự công nhận. Tôi không đến để thi thố với người khác. Tôi đến để cống hiến.”

Suy nghĩ này đã giúp Bryan tự giải phóng để có thể phát huy hết tài năng.

Bất cứ khi nào chúng ta cố thành công trong việc gì đó – để được thăng chức, nhận đầu tư hay chốt hợp đồng, ta bị trói vào kết quả. Việc chú tâm vào một tương lai mà ta không thể kiểm soát ngăn cản ta phát huy hết khả năng của mình tại thời điểm đó.

Chúng ta không chiến thắng bằng cách đánh gục đối thủ. Chúng ta thắng khi có động lực làm những gì tốt nhất có thể, không liên quan đến việc đối thủ đang làm gì.

Dịch từ nguồn.

Các hạng nông dân trong CCRĐ

Cải cách ruộng đất chia nông dân thành các hạng:

  • Cố nông: những người nghèo tận cùng, ko có ruộng đất, phải bán vợ đợ con, cày thuê cuốc mướn
  • Bần nông: nông dân nghèo, có thể có chút ruộng, nhưng nợ nần, thiếu đói
  • Trung nông bậc dưới: có ruộng k0 lớn, đủ ăn nếu thuận thời tiết, có thể xây được nhà gỗ, tậu được trâu, hoặc chung tiền mua trâu
  • Trung nông bậc trên: có đủ ruộng cày, có thể xây được nhà gỗ, tậu được trâu, đủ ăn quanh năm
  • Phú nông bao gồm địa chủ, bá hộ, phú hộ, cường hào… những người có nhiều ruộng đất, nhà cửa, trâu bò và gia nhân, người hầu, thê thiếp

(theo Phan Cẩm Thượng. Văn minh vật chất của người Việt)

Bốn cấp nhân viên

Mỗi công ty đều có một vài cách phân loại nhân viên, rồi căn cứ vào đó mà xác định các chính sách đãi ngộ, thăng tiến hay đào tạo. Có một cách chia đơn giản dựa theo khả năng chung của nhân viên, có thể giúp cho công ty sử dụng nhân viên hiệu quả nhất, và cũng giúp cho nhân viên tìm con đường phấn đấu. Trong bài, nhân viên được hiểu là người làm công ăn lương, tức là từ CEO trở xuống.

Continue reading

Review sách: Nghệ thuật đàm phán đỉnh cao

Alphabooks, 2018

Tựa đề sách tiếng Việt có sự khác biệt khá xa so với tiếng Anh (crucial conversations – những cuộc trao đổi có tầm quan trọng đặc biệt), có lẽ vì có chữ “đàm phán” thì dễ bán cho những doanh nhân hơn. Thực tế thì trao đổi (conversation) khác với đàm phán (negotiation) ở chỗ không nhất thiết phải đi đến một thỏa thuận gì rõ ràng và cố định cả. Sau trao đổi, nhiều khi chỉ cần hai bên nói ra được ý kiến của nhau, lắng nghe nhau, là đã đủ để có những hành động tương ứng sau đó.

Continue reading

Về mục đích

Đa số dân tình trôi trong cuộc đời như một thứ quen thuộc trôi nổi trên sông.
Theo dòng nước, tiện đâu sống đấy.
Đó là bọn khờ dại.

Những người đặc biệt tài giỏi thì đương đầu với dòng chảy.
Họ bơi ngược dòng: ngược với cha mẹ, luật pháp, chính quyền.
Đó là những thằng ngu.

Continue reading

Ba loại lòng tốt

Thứ nhất là lòng tốt của “làm ơn”, “cảm ơn” và “tôi đã sai, tôi xin lỗi.” Những sự tử tế nho nhỏ giúp ta tương tác suôn sẻ, và khiến những người khác cảm thấy ta không vô cảm với họ. Chúng không gây ra phí tổn gì cho ta, và trên thực tế, trong đa số tình huống, vào cuộc với lòng tốt là phần thiết yếu của kết nối, gắn kết và tiến bước.

Continue reading

Sáu quy tắc của George Orwell

Sáu quy tắc cơ bản trong việc viết, của George Orwell, được tờ The Economist đưa vào Style Guide nổi tiếng của mình. Theo họ, các quy tắc này giúp tác giả viết được những bài dễ hiểu nhất với người đọc, họ không phải mất công động não (The first requirement of The Economist is that it should be readily understandable. Clarity of writing usually follows clarity of thought. So think what you want to say, then say it as simply as possible)

George Orwell’s six elementary rules (“Politics and the EnglishLanguage”, 1946):

1. Never use a metaphor, simile or other figure of speech which you are used to seeing in print – Đừng bao giờ sử dụng các phép ẩn dụ, so sánh hoặc các lối nói khác mà bạn thường thấy trên báo in
2. Never use a long word where a short one will do – Đừng bao giờ sử dụng một từ dài, nếu có thể dùng một từ ngắn tương đương
3. If it is possible to cut out a word, always cut it out – Nếu có thể cắt bỏ một từ, hãy luôn cắt bỏ nó đi
4. Never use the passive where you can use the active – Đừng bao giờ sử dụng dạng bị động ở những chỗ có thể sử dụng dạng chủ động.
5. Never use a foreign phrase, a scientific word or a jargon word if you can think of an everyday English equivalent – Đừng bao giờ sử dụng một cụm từ nước ngoài, một từ khoa học hoặc một từ lóng nếu bạn có thể nghĩ ra một từ tương đương của tiếng Anh giao tiếp.
6. Break any of these rules sooner than say anything outright barbarous – Hãy phá bỏ bất cứ quy tắc nào ở trên, nếu kết quả nhận được là gì đó ấn tượng

Tham khảo: The Economist Style Guide

Phân biệt: thiên kiến, định kiến và thành kiến

Khái niệm chung là thiên kiến (bias). Thiên kiến là xu hướng đưa ra quyết định hoặc diễn giải sự việc nghiêng về một bên nào đó, do bạn có sẵn thế giới quan, niềm tin, và vô thức chỉ chọn lọc những thông tin đầu vào phù hợp. Những niềm tin này không chính xác, không được khẳng định qua thực tế (fact), hoặc có nhưng không đầy đủ. Đây là hiện tượng tâm lý phổ quát cho tất cả mọi người. Thiên kiến được chia thành nhiều loại khác nhau.

Trong các loại bias thì có bias liên quan đến con người, được phân loại như sau:

  • Prejudice (định kiến): là thiên kiến về cảm xúc (emotional bias). Khi nhìn thầy hay nghe về một ai đó hay cái gì đó, bạn có ngay những cảm xúc được định trước. Thông thường là các cảm xúc tiêu cực.
  • Stereotype (khuôn mẫu): là thiên kiến về nhận thức (cognitive bias). Vì nhận thức thiên lệch nên người ta có định kiến về cảm xúc.
  • Discrimination (phân biệt đối xử): là thiên kiến về hành vi (bihavioral bias). Khi đã có định kiến, người ta sẽ có hành động tương ứng (ví dụ có hành động khinh bỉ)

Thành kiến thì sao? Trong tiếng Việt, định kiến và thành kiến hay được sử dụng tương đương, nhưng thực tế chúng có sự khác biệt:

  • Định kiến: là những quan điểm của cộng đồng nơi bạn sinh sống, có trước khi bạn sinh ra và bạn thừa hưởng trong quá trình sống và học ở đó. Vì vậy nên có cụm từ “định kiến xã hội” – chúng có sẵn trong xã hội.
  • Thành kiến: là những quan điểm do bạn tự xây dựng cho mình, chứ không có sẵn trong cộng đồng. Ví dụ bạn va chạm với một đồng nghiệp, có ấn tượng tiêu cực với anh ta, và sau đó có thành kiến với anh ta, rằng đây là một kẻ xấu tính, ích kỷ. Tiếng Anh từ prejudice cũng được dịch là thành kiến, tuy nhiên từ preconception có lẽ chính xác hơn. Và có thêm cụm từ sau cũng phù hợp: premature cognitive commitment (PCC).

Nói thêm về PCC. Trong cuốn Mindfulness, GS Ellen Langer đưa ra ví dụ về PCC như sau: một đứa trẻ sống với người ông sẽ hình thành cái nhìn về người già nói chung, và lưu giữ quan niệm đó mãi. Đến khi đứa trẻ trở nên già, thì cái hình ảnh đó sẽ ảnh hưởng ngược lại với chúng. Ví dụ, đứa trẻ ở với ông lúc 2 tuổi thì ghi nhớ hình ảnh người già tráng kiện, “to lớn”, còn đứa trẻ ở với ông lúc 13 tuổi thì ghi nhớ hình ảnh người già lụ khụ, bé nhỏ. Đến khi già đi, nhóm thứ nhất có lối sống tích cực hơn, nhìn nhận tuổi già lạc quan hơn.

Ghi chú: các khái niệm này không có ranh giới rạch ròi, và các định nghĩa còn cần được cải tiến, hoàn thiện thêm.

Tham khảo: Thang Allport về Định kiến và Phân biệt đối xử.

Viện sĩ Gelfand – không học lớp 10 và chưa từng là sinh viên

Israel Gelfand (1913-2009) – một trong những nhà toán học vĩ đại nhất thế kỷ 20, tác giả của nhiều công trình lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng phương pháp toán học trong lĩnh vực vật lý, địa chấn, sinh học, sinh lý thần kinh, y học. Sinh ra ở làng Okny, Ukraina. Sau khi chỉ tốt nghiệp chín lớp phổ thông, không học đại học, ông vào làm nghiên cứu sinh Khoa Toán Cơ MGU, ở tuổi 27, trở thành tiến sĩ khoa học và ở tuổi bốn mươi – là viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Gelfand là người giành được nhiều giải thưởng quốc gia và quốc tế; tiến sĩ danh dự của bảy trường đại học nước ngoài, bao gồm Harvard và Oxford; thành viên nước ngoài danh dự của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoa Kỳ.

Continue reading

Tại sao Louis Armstrong luôn đeo Ngôi sao David?

Một trong những nhạc công nổi tiếng nhất thế kỷ XX, Louis Armstrong, là cháu của nô lệ da đen được đưa đến Mỹ.  Ông sinh ra và trải qua tuổi thơ trong nghèo khó.

Trong hồi ký của mình do Đại học Oxford xuất bản, ông kể về những năm tháng đầu đời đã được nuôi dưỡng và thay đổi bởi một gia đình Do Thái nghèo.

Continue reading