Lời người dịch. Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ là bí kíp luyện công tương truyền của Lã Động Tân (là một trong Bát Tiên). Năm 1929, sách được Richard Wilhelm dịch ra tiếng Đức và giới thiệu đến độc giả phương Tây (tên tiếng Anh: The Secret of the Golden Flower: a Chinese Book of Life. Sách được dịch từ nguyên gốc ra tiếng Việt năm 1999 với tựa Phép luyện công của Lã Động Tân. OSHO có viết bộ sách về bí kíp này tựa là The Secret of Secrets (bản tiếng Việt – Bí mật của những bí mật) – lưu ý tránh nhầm lẫn với quyển khác của OSHO tên là The Book of Secrets). Nhà phân tâm học Carl Jung rất quan tâm đến các học thuyết phương Đông nên đã nghiên cứu và viết phần bình luận rất chi tiết. Jung thú nhận rằng sách này góp phần khiến ông hoàn thành lý thuyết về vô thức tập thể.
Từ góc nhìn phương Đông thì có thể thấy Jung đã hiểu sai nội dung văn bản, đã phóng chiếu những chỉ dẫn luyện công cho cơ thể thành những suy tưởng thuần túy về tâm trí (psyche). Tức là các bình luận của Jung nói nhiều hơn về bản thân ông, củng cố cho lý thuyết của ổng, chứ không phải về nội dung cuốn sách. Chính vì thế, điều đó giúp người đọc hiểu hơn về tư tưởng của Jung. Phần giới thiệu mà tôi chọn dịch dưới đây cho ta thấy cách tiếp cận rất khoa học, thận trọng của Jung đối với các văn bản ‘kỳ lạ’ của phương Đông, và phản tư của ông về quá trình trưởng thành giác ngộ của con người.
1.Những khó khăn mà người châu Âu gặp phải khi tìm cách hiểu phương Đông
Tôi là một người nhìn nhận thế giới hoàn toàn theo kiểu phương Tây, do đó tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thấm nhuần một cách sâu sắc sự độc đáo của văn bản tiếng Trung này. Dĩ nhiên, một chút kiến thức về các tôn giáo và hệ thống triết học phương Đông giúp trí óc và trực giác của tôi phần nào hiểu được chúng, cũng như việc tôi có thể nắm bắt được những nghịch lý của các tín ngưỡng tôn giáo nguyên thủy về mặt “dân tộc học” hoặc về mặt “lịch sử tôn giáo so sánh”. Nhưng, phương Tây lại rất hay bọc trái tim của mình trong lớp vỏ là cái gọi là hiểu biết khoa học. Một mặt vì “sự phù phiếm đáng thương của các nhà khoa học” (misérable vanité des savants) – sợ hãi và thậm chí ghê tởm những biểu hiện của sự tham gia trực tiếp sống động, mặt khác vì sự hiểu biết chạm tới cảm xúc có thể khiến cho việc tiếp xúc với một linh hồn xa lạ trở thành một trải nghiệm nghiêm túc. Lẽ ra, cái thứ gọi là tính khách quan khoa học sẽ đưa văn bản này cho sự nghiền ngẫm ngữ văn của một nhà Hán học, và kiên quyết ngăn nó khỏi bất kỳ cách tiếp cận nào khác. Nhưng Richard Wilhelm đã đi quá sâu vào đời sống bí ẩn và huyền bí của tri thức Trung Hoa, đến nỗi không thể để một viên ngọc của hiểu biết cao siêu như vậy chìm vào đáy ngăn kéo bàn làm việc của một chuyên ngành khoa học. Thật là vinh dự và vui mừng cho tôi, khi trong hành trình tìm kiếm một nhà bình luận tâm lý học, ông đã chọn tôi.
Nhưng, ngay cả khi đó, công trình hiếm có về tri thức chung này vẫn có nguy cơ nằm gọn trong ngăn kéo bàn làm việc của ngành khoa học nào đó khác. Nhưng, bất cứ ai hạ thấp giá trị của khoa học phương Tây thì sẽ tự cưa cành cây mà tinh thần châu Âu đang ngồi trên. Khoa học, dù không hoàn hảo, là một công cụ vô giá và tuyệt vời, chỉ tạo ra điều xấu khi nó trở thành mục đích tự thân. Khoa học phải phục vụ, nó sẽ sai lầm khi chiếm đoạt ngai vàng. Nó phải phục vụ cả những ngành khoa học khác cùng đẳng cấp, bởi vì mỗi ngành, vì sự thiếu sót của chính mình, đều cần sự hỗ trợ của những ngành khác. Khoa học là một công cụ của tinh thần phương Tây, và với sự giúp đỡ của nó, người ta có thể mở ra nhiều cánh cửa hơn so với chỉ dùng tay không. Nó thuộc về khả năng hiểu biết của chúng ta, và chỉ che mắt ta khi sự hiểu biết đạt được thông qua nó bị nhầm lẫn là hiểu biết duy nhất đúng. Phương Đông thì dạy chúng ta một sự hiểu biết khác, rộng hơn, sâu sắc hơn và cao cả hơn – đó chính là sự hiểu biết thông qua cuộc sống. Chúng ta chỉ biết đến con đường này một cách mơ hồ, như một cảm xúc mờ nhạt được chắt lọc từ thuật ngữ tôn giáo, và vì vậy chúng ta vui vẻ gạt bỏ “trí tuệ” (wisdom) phương Đông bằng cách đặt nó trong ngoặc kép, và đẩy nó vào lãnh địa mờ mịt của đức tin và mê tín. Nhưng đây chính là lý do cho việc hiểu sai hoàn toàn về “tính khách quan” (realism) của phương Đông. Đây không phải là những sự giác ngộ nhạy cảm, cao siêu thần bí, gần như là đau đớn của các ẩn sĩ khổ hạnh và những kẻ cuồng tín, mà là trực giác thực tiễn của giới tinh hoa trí thức Trung Quốc, những người mà chúng ta không có lý do gì để đánh giá thấp.
Một tuyên bố như vậy có vẻ khá táo bạo và do đó gây ra một số hoang mang, là điều mà tôi phải thừa nhận là có thể tha thứ được, vì chủ đề này cực kỳ lạ lùng. Hơn nữa, sự xa lạ của nó quá rõ ràng đến mức dễ hiểu là tại sao chúng ta thấy khó để chỉ ra rằng hệ thống tư tưởng Trung Quốc có thể tiếp xúc với hệ thống tư tưởng của chúng ta như thế nào và ở đâu. Một sai lầm phổ biến (cụ thể là trong lĩnh vực thần học) của người phương Tây là – giống như chàng sinh viên trong Faust, người bị quỷ dữ thì thầm một cách ranh mãnh – họ quay lưng lại với khoa học một cách khinh miệt và, sau khi đã tiếp nhận sự xuất thần (ecstatics) phương Đông, họ sao chép và bắt chước một cách thảm hại các kỹ thuật thực hành của yoga. Khi làm như vậy, họ từ bỏ nền tảng đáng tin cậy duy nhất cho tinh thần phương Tây và lạc lối trong một màn sương mù của những từ ngữ và khái niệm mà một người châu Âu sẽ không bao giờ hình thành, và chúng cũng không thể được truyền đạt một cách hữu ích cho anh ta.
Một bậc thầy cổ xưa đã nói: “Nếu một người sai trái sử dụng một phương tiện chân chính, thì phương tiện chân chính đó sẽ hành động một cách sai trái.” Câu ngạn ngữ quá đúng này của trí tuệ Trung Quốc lại là sự tương phản rõ rệt nhất với niềm tin của chúng ta vào các phương pháp “đúng đắn” bất kể người áp dụng chúng là ai. Trên thực tế, trong những vấn đề như vậy, mọi thứ đều phụ thuộc vào con người và hầu như không phụ thuộc vào phương pháp. Suy cho cùng, phương pháp chỉ là con đường và hướng đi do ai đó lựa chọn, và hành động của họ sẽ là biểu hiện chân thực của bản chất họ. Nếu không phải vậy, thì phương pháp chẳng qua chỉ là một sự giả tạo, được áp dụng một cách giả tạo, không có gốc rễ và không có nhựa sống, phục vụ cho mục đích phi pháp là che giấu bản thân, một phương tiện tự lừa dối và trốn tránh quy luật tự nhiên, có lẽ là tàn nhẫn.
Điều này hoàn toàn không liên quan gì đến sự kiên định nội tâm và lòng trung thành với chính mình vốn là đặc trưng của tư tưởng Trung Hoa; ngược lại, nó là sự từ bỏ bản chất của chính mình, sự phản bội bản thân trước những vị thần xa lạ và ô uế, một thủ đoạn hèn nhát nhằm chiếm đoạt một vị trí then chốt trong cõi tâm hồn, tất cả những gì trái ngược sâu sắc với ý nghĩa của “phương pháp” Trung Hoa. Bởi lẽ, những hiểu biết của người Trung Quốc được sinh ra từ đời sống thuần khiết, chân chính và thực nhất, từ đời sống văn hóa cổ xưa của người Trung Quốc, vốn phụ thuộc lẫn nhau một cách logic và mạch lạc từ những bản năng sâu thẳm nhất – một đời sống mà đối với chúng ta là xa vời và không thể bắt chước.
Việc bắt chước phương Đông của phương Tây là bi thảm kép vì nó là một sự hiểu lầm về mặt tâm lý học, vô nghĩa như những cuộc phiêu lưu thời thượng hiện nay ở New Mexico, hay những hòn đảo hạnh phúc ở Nam Hải và Trung Phi, nơi tính “nguyên thủy” được sân khấu hóa một cách nghiêm túc, để những người phương Tây văn minh có thể âm thầm tránh né những nhiệm vụ của mình. Việc của chúng ta không phải là bắt chước những gì vốn xa lạ một cách hữu cơ, hay tệ hơn, gửi những nhà truyền giáo đến với người nước ngoài. Việc của chúng ta là xây dựng văn hóa phương Tây, vốn bị hàng ngàn tệ nạn giày vò. Việc này phải được thực hiện ngay tại chỗ, và ta phải kéo vào trong công việc người châu Âu thật, với những nét bình dị phương Tây đặc trưng, những vấn đề hôn nhân, chứng rối loạn thần kinh, ảo tưởng chính trị và xã hội, và toàn bộ sự mất phương hướng triết học của họ.
Sẽ tốt hơn nếu chúng ta thừa nhận ngay rằng, về cơ bản mà nói, chúng ta không hiểu, và thậm chí không muốn hiểu, bản chất phi-thế-giới (unworldliness) của văn bản này. Có lẽ chúng ta có linh cảm rằng một thái độ tinh thần có thể hướng cái nhìn vào bên trong đến mức độ đó, tách rời khỏi thế giới bên ngoài, là do những người đó đã hoàn toàn đáp ứng được những nhu cầu bản năng của bản chất mình đến nỗi hầu như không có gì ngăn cản họ nhận thức được bản chất vô hình của thế giới? Có lẽ, điều kiện cho sự thấu hiểu như vậy phải là sự giải thoát khỏi những ràng buộc, tham vọng và đam mê trói buộc chúng ta vào thế giới hữu hình. Và sự giải thoát này phải xuất phát chính xác từ sự đáp ứng có ý thức những đòi hỏi bản năng này, chứ không phải từ sự kìm nén mang tính phòng ngừa và bị thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi. Liệu chúng ta sẽ chỉ được tự do để biết thế giới của tâm trí (mind) khi các quy luật của trái đất đã được tuân theo. Bất cứ ai biết lịch sử văn hóa Trung Quốc, và hơn nữa, những ai đã nghiên cứu kỹ lưỡng Kinh Dịch, cuốn sách trí tuệ đã thấm nhuần tư tưởng Trung Quốc hàng thiên niên kỷ, sẽ không dễ bỏ qua những câu hỏi này. Hơn nữa, họ sẽ khám phá ra rằng quan điểm trong văn bản của chúng ta không phải là điều gì đó chưa từng nghe thấy đối với tâm trí người Trung Quốc, mà là những kết luận tâm lý học tất yếu.
Từ lâu, tinh thần (spirit) và niềm đam mê đối với tinh thần là những giá trị cao cả nhất và là điều đáng phấn đấu nhất trong nền văn hóa tư tưởng Kitô giáo đặc thù của chúng ta. Chỉ sau sự suy tàn của thời Trung cổ, tức là trong suốt thế kỷ XIX, khi tinh thần bắt đầu thoái hóa thành trí năng (intellect), mới xuất hiện một phản ứng chống lại sự thống trị không thể chịu đựng nổi của chủ nghĩa trí thức, dẫn đến sai lầm có thể tha thứ được là nhầm lẫn trí năng với tinh thần, và đổ lỗi cho tinh thần về những sai phạm của trí năng. Trên thực tế, trí năng đã vi phạm tâm hồn (soul) khi nó cố gắng chiếm hữu di sản của tinh thần. Nó hoàn toàn không phù hợp để làm điều này, bởi vì tinh thần là thứ cao hơn trí năng ở chỗ nó không chỉ bao gồm trí năng mà còn cả các cảm xúc. Đó là một đường lối hay nguyên tắc sống hướng tới những đỉnh cao siêu phàm, rực rỡ; nhưng, đối lập với nó, là nguyên tắc nữ tính, tối tăm, sinh ra từ đất, với tính cảm xúc và bản năng của nó, vươn xa vào chiều sâu của thời gian và vào tận gốc rễ của sự liên tục về sinh lý. Không còn nghi ngờ gì nữa, những khái niệm này hoàn toàn là những hình dung của trực cảm, nhưng người ta không thể bỏ qua chúng nếu muốn hiểu bản chất của tâm hồn con người. Trung Quốc đã không thể bỏ qua chúng bởi vì, như lịch sử triết học Trung Quốc đã chứng minh, nó chưa bao giờ đi quá xa khỏi những sự thật psychic cốt lõi đến mức lạc lối trong sự phát triển quá mức và đánh giá quá cao một chức năng psychic đơn lẻ. Do đó, người Trung Quốc chưa bao giờ thất bại trong việc nhận ra những nghịch lý và tính phân cực vốn có trong mọi sự sống. Các mặt đối lập luôn cân bằng trên cán cân – một dấu hiệu của nền văn hóa cao. Sự phiến diện, mặc dù tạo động lực, là dấu hiệu của sự man rợ. Vì vậy, tôi chỉ có thể coi phản ứng bắt đầu ở phương Tây chống lại trí năng để ủng hộ eros và ủng hộ trực giác như là một dấu hiệu của sự tiến bộ văn hóa, một sự mở rộng ý thức vượt ra ngoài những giới hạn quá hẹp do một trí năng độc đoán đặt ra.
Nhưng tôi không hề có ý định đánh giá thấp sự khác biệt to lớn của trí năng phương Tây, bởi vì, nếu so sánh với nó, trí năng phương Đông có thể được mô tả là non nớt. (Rõ ràng điều này không liên quan gì đến trí thông minh – intelligence). Nếu chúng ta đã thành công trong việc mang lại một chức năng khác, hoặc thậm chí là thêm chức năng thứ ba, cho trí năng, thì phương Tây có thể kỳ vọng vượt trội hơn phương Đông rất nhiều. Do đó, thật đáng tiếc khi người châu Âu phản bội chính mình và bắt chước phương Đông hoặc “ảnh hưởng” nó theo bất kỳ cách nào. Họ sẽ có nhiều khả năng hơn nếu họ giữ vững bản chất của mình và phát triển từ bản chất riêng của mình tất cả những gì phương Đông đã tạo ra từ nội tại của họ trong suốt nhiều thế kỷ.
Nói chung, và nhìn từ quan điểm bên ngoài vốn là cách thức không thể chữa khỏi của trí năng, dường như những điều được phương Đông đánh giá cao lại không đáng mong muốn đối với chúng ta. Trên hết, trí năng đơn thuần không thể hiểu được tầm quan trọng thực tiễn mà các ý tưởng phương Đông có thể mang lại cho chúng ta, và đó là lý do tại sao trí năng chỉ có thể phân loại những ý tưởng này là những điều kỳ lạ về triết học và dân tộc học chứ không hơn gì. Theo như tôi hiểu, sự thiếu hiểu biết lớn đến mức ngay cả các học giả Hán học cũng không hiểu được ứng dụng thực tiễn của Kinh Dịch, và do đó coi cuốn sách như một tập hợp các bùa chú khó hiểu.
2. Tâm lý học hiện đại mở ra khả năng hiểu
Kinh nghiệm trong quá trình hành nghề của tôi đã giúp tôi khám phá ra một cách tiếp cận hoàn toàn mới và bất ngờ đối với trí tuệ phương Đông. Nhưng cần phải hiểu rằng, ngay từ đầu, tôi không có kiến thức đầy đủ về triết học Trung Quốc. Ngược lại, khi bắt đầu sự nghiệp hành nghề tâm thần học và trị liệu tâm lý, tôi hoàn toàn không biết gì về triết học Trung Quốc, và chỉ sau này, kinh nghiệm nghề nghiệp mới cho tôi thấy rằng trong kỹ thuật của mình, tôi đã vô thức đi theo con đường bí truyền mà từ nhiều thế kỷ nay đã là mối bận tâm của những bộ óc vĩ đại nhất phương Đông. Điều này có thể được coi là sự tưởng tượng chủ quan – một lý do khiến tôi trước đây ngần ngại xuất bản bất cứ điều gì về chủ đề này – nhưng Wilhelm, chuyên gia hàng đầu về tâm hồn Trung Quốc, đã công khai xác nhận sự trùng hợp này với tôi. Bằng cách đó, ông đã cho tôi dũng khí để viết về một văn bản Trung Quốc, mặc dù về bản chất nó thuộc về những bóng tối bí ẩn của tư duy phương Đông, nhưng đồng thời, và điều này rất quan trọng, lại cho thấy những điểm tương đồng nổi bật với quá trình phát triển tâm lý ở các bệnh nhân của tôi, không ai trong số họ là người Trung Quốc.
Để người đọc dễ hiểu hơn về hiện tượng kỳ lạ này, cần phải nói thêm rằng, cũng giống như cơ thể con người có cấu trúc giải phẫu chung vượt lên trên mọi khác biệt về chủng tộc, psyche cũng sở hữu một nền tảng chung. Tôi gọi nền tảng chung này là vô thức tập thể. Là một di sản chung của nhân loại, nó vượt qua mọi khác biệt về văn hóa và ý thức, và không chỉ bao gồm những nội dung có khả năng trở nên có ý thức, mà còn cả những khuynh hướng tiềm ẩn hướng tới những phản ứng giống hệt nhau. Như vậy, sự tồn tại của vô thức tập thể đơn giản là biểu hiện psychic của sự đồng nhất về cấu trúc não bộ bất kể mọi khác biệt về chủng tộc. Bằng phương tiện này, có thể giải thích được sự tương đồng, thậm chí đến mức đồng nhất, giữa các chủ đề và biểu tượng thần thoại khác nhau, và khả năng hiểu biết của con người nói chung. Các hướng phát triển psyche khác nhau bắt đầu từ một nguồn gốc chung có nguồn gốc sâu xa trong quá khứ. Ở đây cũng có sự tương đồng về mặt tâm lý học với động vật.
Xét thuần túy về mặt tâm lý học, điều đó có nghĩa là chúng ta có bản năng chung về tư duy (ideation) (tưởng tượng – imagination), và hành động. Tất cả trí tưởng tượng và hành động hữu thức đều phát triển từ những nguyên mẫu vô thức này, và vẫn gắn bó với chúng. Điều này đặc biệt đúng khi ý thức chưa đạt đến mức độ sáng rõ cao, nghĩa là khi, trong tất cả các chức năng của nó, nó phụ thuộc nhiều vào bản năng hơn là ý chí hữu thức, bị chi phối bởi cảm xúc hơn là phán đoán lý trí. Tình trạng này đảm bảo một sức khỏe nguyên thủy của psyche, tuy nhiên, ngay lập tức trở nên thiếu khả năng thích nghi khi xuất hiện những hoàn cảnh đòi hỏi nỗ lực đạo đức cao hơn. Bản năng chỉ đủ cho một bản chất mà nhìn chung vẫn ở một cấp độ duy nhất. Một cá nhân, nếu được dẫn dắt bởi sự lựa chọn vô thức hơn là hữu thức, sẽ có xu hướng bảo thủ về psyche một cách rõ rệt. Đây là lý do tại sao người nguyên thủy không thay đổi trong suốt hàng nghìn năm, và cũng là nguyên nhân khiến họ sợ hãi mọi thứ kỳ lạ và bất thường. Nếu họ ít bảo thủ hơn, thì điều đó có thể dẫn đến sự thích nghi kém, và do đó dẫn đến loại nguy hiểm psychic lớn nhất, cụ thể là một chứng loạn thần kinh. Một nhận thức cao hơn và rộng lớn hơn, chỉ có được thông qua việc đồng hóa những điều xa lạ, hướng tới sự tự chủ, hướng tới cuộc cách mạng chống lại những vị thần cũ, mà thực chất chỉ là những hình ảnh nguyên thủy, vô thức, mạnh mẽ, đã từng trói buộc ý thức cho đến nay.
Ý thức càng trở nên mạnh mẽ và độc lập, cùng với đó là ý chí hữu thức, thì vô thức càng bị đẩy lùi về phía sau. Khi điều này xảy ra, các cấu trúc hữu thức sẽ dễ dàng tách rời khỏi hình ảnh vô thức. Nhờ đó, chúng giành được tự do, phá vỡ xiềng xích của bản năng đơn thuần, và cuối cùng đạt đến trạng thái tách rời hoặc trái ngược với bản năng. Ý thức bị tách rời khỏi cội rễ và không còn có thể dựa vào quyền uy của những hình ảnh nguyên thủy, sở hữu một sự tự do kiểu Prometheus, điều đó đúng, nhưng nó cũng mang bản chất của sự kiêu ngạo (hybris) vô thần. Nó bay lượn trên trái đất, thậm chí trên cả nhân loại, nhưng nguy cơ lật úp vẫn hiện hữu, không phải cho mỗi cá nhân, mà là cho những thành viên yếu đuối trong xã hội đó, những người cũng giống như Prometheus, bị vô thức trói buộc vào núi Caucasus. Người Trung Quốc thông thái sẽ nói theo lời của Kinh Dịch: Khi dương đạt đến sức mạnh lớn nhất, thì trong thẳm sâu của nó sức mạnh đen tối của âm sẽ được sinh ra. Đêm bắt đầu vào giữa trưa, khi dương phân rã và bắt đầu chuyển hóa thành âm.
Một thầy thuốc có thể thấy chu kỳ biến đổi này được thể hiện một cách trực tiếp trong cuộc sống. Ví dụ, ông ta thấy một doanh nhân thành đạt đạt được mọi điều mình mong muốn bất chấp cái chết và ma quỷ, rồi rút lui khỏi hoạt động kinh doanh ở đỉnh cao của sự thành công. Trong một thời gian ngắn, người đàn ông rơi vào chứng rối loạn thần kinh, biến ông ta thành một bà già hay cằn nhằn, trói buộc ông ta vào giường và cuối cùng hủy hoại ông ta. Bức tranh hoàn chỉnh ngay cả đến sự thay đổi từ thái độ nam tính sang nữ tính. Một sự tương đồng chính xác với điều này là truyền thuyết về Nebuchadnezzar trong sách Daniel, và kiểu điên loạn của các hoàng đế La Mã nói chung. Những trường hợp tương tự về sự phóng đại một chiều trong quan điểm hữu thức, và phản ứng âm tương ứng của vô thức, tạo thành một phần không nhỏ trong thực tiễn của các chuyên gia thần kinh thời đại chúng ta, một thời đại quá coi trọng ý chí hữu thức đến mức tin rằng “nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường”. Tôi không hề có ý định hạ thấp giá trị đạo đức cao cả của ý chí hữu thức; ý thức và ý chí không nên bị coi thường mà nên được xem là những thành tựu văn hóa vĩ đại nhất của nhân loại. Nhưng một nền đạo đức hủy hoại nhân loại thì có ích lợi gì? Việc đưa ý chí và năng lực vào sự hài hòa dường như đối với tôi còn hơn cả đạo đức. Đạo đức với bất kỳ giá nào (a tout prix) là dấu hiệu của sự man rợ, thường thì trí tuệ tốt đẹp hơn. Nhưng có lẽ tôi nhìn nhận vấn đề này qua lăng kính nghề nghiệp của một bác sĩ phải khắc phục những căn bệnh phát sinh sau một thành tựu văn hóa quá đà.
Cứ để nó như vậy. Dù sao đi nữa, sự thật là ý thức, được gia tăng bởi tính phiến diện tất yếu, ngày càng xa rời những hình ảnh nguyên thủy đến mức dẫn đến sự sụp đổ không thể tránh khỏi. Rất lâu trước khi thảm họa thực sự xảy ra, những dấu hiệu của sai lầm tự bộc lộ qua sự thiếu bản năng, căng thẳng, mất phương hướng và vướng mắc vào những tình huống và vấn đề bất khả thi, v.v. Khi bác sĩ đến điều tra, ông ta phát hiện ra một vô thức đang hoàn toàn nổi loạn chống lại các giá trị của ý thức, và do đó, không thể đồng hóa với ý thức, trong khi điều ngược lại hoàn toàn không thể xảy ra. Khi đó, người ta phải đối mặt với một xung đột dường như không thể dung hòa mà lý trí con người không thể giải quyết ngoại trừ bằng những giải pháp giả tạo hoặc những thỏa hiệp đáng ngờ. Nếu cả hai cách né tránh này đều bị bác bỏ, người ta sẽ phải đối mặt với câu hỏi về sự thống nhất nhân cách rất cần thiết đã đi đến đâu, và sự cần thiết phải tìm kiếm nó. Chính tại điểm này bắt đầu con đường mà phương Đông đã đi từ thuở ban đầu. Rõ ràng, người Trung Quốc tìm ra con đường này là nhờ họ chưa bao giờ bị dẫn dắt đến việc tách rời quá mức các cặp đối lập trong bản chất con người đến nỗi mất đi mọi kết nối ý thức giữa chúng. Người Trung Quốc có định hướng bao dung này bởi vì, cũng như trong trường hợp tư duy nguyên thủy, cái đúng và cái sai vẫn luôn ở gần nhau như ban đầu. Tuy nhiên, họ không thể tránh khỏi cảm giác va chạm giữa các mặt đối lập, và do đó họ tìm kiếm một lối sống mà trong đó họ sẽ trở thành cái mà người Hindu gọi là nirdvandva, tức là thoát khỏi các mặt đối lập.
Văn bản của chúng ta đề cập đến “Đạo” này, và chính câu hỏi về “Đạo” này cũng được các bệnh nhân của tôi nêu ra. Không có sai lầm nào lớn hơn việc một người phương Tây trực tiếp thực hành yoga Trung Quốc, bởi vì khi đó nó vẫn là vấn đề ý chí và ý thức của họ, và chỉ làm tăng cường ý thức chống lại vô thức, dẫn đến chính hiệu ứng đáng lẽ phải tránh. Khi đó, chứng rối loạn thần kinh sẽ càng trầm trọng hơn. Nhấn mạnh bao nhiêu cũng không đủ, rằng chúng ta không phải là người phương Đông, và do đó có điểm xuất phát hoàn toàn khác nhau trong những vấn đề này. Cũng sẽ là một sai lầm lớn nếu cho rằng đây là con đường mà mọi người mắc chứng rối loạn thần kinh phải đi, hoặc đó là giải pháp cần tìm kiếm ở mọi giai đoạn của vấn đề rối loạn thần kinh. Nó chỉ phù hợp trong những trường hợp mà ý thức đã đạt đến mức độ phát triển bất thường, và do đó đã lệch quá xa so với vô thức. Mức độ ý thức cao này là điều kiện tiên quyết (conditio sine qua non). Không có gì sai lầm hơn việc mong muốn mở ra con đường này cho những người mắc chứng rối loạn thần kinh đang bị bệnh do sự chiếm ưu thế quá mức của vô thức. Vì lý do tương tự, cách phát triển này hầu như không có ý nghĩa gì trước tuổi trung niên (thường là từ 35 đến 40 tuổi), trên thực tế, nếu bắt đầu quá sớm, nó có thể rất có hại.
Như đã nêu, động lực thiết yếu để tìm ra một phương pháp mới nằm ở chỗ vấn đề cơ bản của bệnh nhân dường như không thể giải quyết được đối với tôi trừ khi có sự tác động mạnh mẽ đến một trong hai khía cạnh bản chất của họ. Tôi luôn làm việc với niềm tin bản năng rằng xét cho cùng không có vấn đề nào là không thể giải quyết được, và kinh nghiệm cho đến nay đã chứng minh điều đó là đúng khi tôi thường thấy những cá nhân đơn giản là lớn vượt qua được một vấn đề đã hủy hoại những người khác. Sự “lớn vượt lên” (outgrow) này, như tôi vừa gọi, khi trải nghiệm sâu hơn đã cho thấy đó là sự nâng cao của ý thức. Một mối quan tâm cao hơn hoặc rộng hơn đã xuất hiện trong tầm nhìn của người đó, và thông qua việc mở rộng tầm nhìn này, vấn đề nan giải đã mất đi tính cấp bách. Nó không được giải quyết một cách logic theo đúng bản chất của nó, mà mờ dần đi khi đối lập với một xu hướng sống mới và mạnh mẽ hơn. Nó không bị kìm nén và trở nên vô thức, mà chỉ đơn giản xuất hiện dưới một ánh sáng khác, và do đó tự nó trở nên khác biệt. Điều mà ở cấp độ thấp hơn đã dẫn đến những xung đột dữ dội nhất và những cảm xúc đầy hoảng loạn, khi nhìn từ cấp độ cao hơn của nhân cách, giờ đây dường như chỉ là một cơn bão trong thung lũng nhìn từ đỉnh núi cao. Điều này không có nghĩa là cơn giông bão bị tước đoạt thực tại của nó; nó có nghĩa là, thay vì ở trong đó, giờ đây người ta đang ở trên nó. Nhưng vì, xét về mặt psyche, chúng ta vừa là thung lũng vừa là núi, nên dường như đó là một ảo tưởng hão huyền nếu người ta cảm thấy mình ở trên những gì thuộc về con người. Cá nhân chắc chắn cảm nhận được ảnh hưởng và bị co giật, bị dày vò bởi nó, nhưng đồng thời anh ta cũng nhận thức được. Đó là một ý thức cao hơn ngăn cản anh ta đồng nhất với cảm xúc, một ý thức nhìn nhận cảm xúc một cách khách quan và có thể nói: “Tôi biết rằng tôi đang đau khổ”. Văn bản mà chúng ta đang tìm hiểu nói về sự lười biếng (bản tiếng Việt là ‘hôn trầm” – Datpp): “Còn việc hôn trầm mà mình không tự nhận biết với hôn trầm mà tự mình có thể nhận biết được là hai việc cách xa nhau một trời một vực!” Ở mức độ cao nhất, điều này cũng đúng với cảm xúc.
Trong quá trình hành nghề của tôi, thỉnh thoảng tôi gặp trường hợp bệnh nhân vượt qua được những khả năng đen tối tiềm ẩn trong chính bản thân họ, và việc quan sát hiện tượng này là một trải nghiệm vô cùng quan trọng đối với tôi. Đồng thời, tôi nhận ra rằng những vấn đề lớn nhất và quan trọng nhất của cuộc sống về cơ bản đều không thể giải quyết được. Chúng phải như vậy, bởi vì chúng thể hiện tính phân cực cần thiết vốn có trong mọi hệ thống tự điều chỉnh. Chúng không bao giờ có thể được giải quyết, mà chỉ có thể lớn vượt qua. Vì vậy, tôi tự hỏi liệu khả năng lớn vượt qua này, hay sự phát triển psyche hơn nữa, có phải là điều bình thường hay không, trong khi việc bị mắc kẹt trong xung đột lại là điều gì đó bệnh lý. Ai cũng phải sở hữu trình độ cao hơn đó, ít nhất là ở dạng phôi thai, và trong những hoàn cảnh thuận lợi, phải có thể phát triển khả năng đó. Khi tôi xem xét quá trình phát triển của những người, một cách lặng lẽ và như thể vô thức, đã lớn vượt qua chính mình, tôi thấy rằng số phận của họ có điểm chung. Cho dù xuất phát từ bên ngoài hay bên trong, điều mới mẻ đến với tất cả những người đó từ một lĩnh vực tiềm ẩn của những khả năng; họ chấp nhận nó và phát triển hơn nữa nhờ nó. Đối với tôi, dường như đó là điều điển hình, trong một số trường hợp, điều mới mẻ được tìm thấy bên ngoài bản thân họ, và trong những trường hợp khác thì bên trong. Hay nói đúng hơn, nó nảy sinh ở một số người từ bên ngoài, và ở những người khác từ bên trong. Nhưng nó không bao giờ là thứ chỉ đến từ bên trong hay bên ngoài. Nếu nó đến từ bên ngoài cá nhân, nó trở thành một trải nghiệm nội tâm; nếu nó đến từ bên trong, nó được biến đổi thành một sự kiện bên ngoài. Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, nó cũng không được tạo ra thông qua mục đích và ý chí hữu thức, mà dường như tuôn ra từ dòng thời gian.
Chúng ta rất dễ bị cám dỗ để biến mọi thứ thành mục đích và phương pháp, vì vậy tôi cố tình diễn đạt bản thân bằng những thuật ngữ rất trừu tượng để tránh gây ra định kiến theo hướng này hay hướng khác. Điều mới mẻ thì không nên bị đóng khung dưới bất kỳ tiêu đề nào, vì khi đó nó được áp dụng theo cách cho phép sao chép máy móc, và đó lại là trường hợp “phương tiện đúng” trong tay “người sai”. Tôi đã rất ấn tượng với thực tế rằng điều mới mẻ được số phận chuẩn bị hiếm khi hoặc không bao giờ tương ứng với kỳ vọng hữu thức. Một điều đáng chú ý hơn nữa là, mặc dù điều mới mẻ này mâu thuẫn với những bản năng ăn sâu bám rễ mà chúng ta biết, nhưng nó lại là một biểu hiện đặc biệt phù hợp của toàn bộ nhân cách, một biểu hiện mà người ta không thể tưởng tượng được ở dạng hoàn chỉnh hơn.
Vậy thì những người này đã làm gì để đạt được sự tiến bộ đã giải phóng họ? Theo như tôi thấy, họ không làm gì cả (vô vi), mà để mọi việc diễn ra tự nhiên, bởi vì, như Lã Tổ (Lã Động Tân, tác giả sách – Datpp) dạy trong văn bản của chúng ta, Ánh sáng lưu chuyển theo quy luật riêng của nó, nếu người ta không từ bỏ lời kêu gọi quen thuộc của mình. Nghệ thuật để mọi việc diễn ra tự nhiên, hành động trong không hành động, buông bỏ bản thân, như bậc thầy Eckehart đã dạy, đã trở thành chìa khóa giúp tôi mở được cánh cửa dẫn đến “Đạo”. Chìa khóa là: chúng ta phải có khả năng để mọi việc diễn ra trong psyche. Đối với chúng ta, điều này trở thành một nghệ thuật thực sự mà ít người biết đến. Ý thức luôn can thiệp, giúp đỡ, sửa chữa và phủ định, và không bao giờ để cho sự phát triển đơn giản của các quá trình psychic được yên bình. Việc này tưởng chừng đơn giản, nhưng chẳng phải sự đơn giản là điều khó khăn nhất hay sao. Nó chỉ đơn giản là quan sát một cách khách quan sự phát triển của bất kỳ mảnh ghép tưởng tượng nào. Không gì có thể đơn giản hơn thế, vậy mà chính ở đây khó khăn bắt đầu. Dường như không có mảnh ghép tưởng tượng nào trong tầm tay – đúng là có, nhưng nó quá ngớ ngẩn! Hàng ngàn lời bào chữa được đưa ra: không thể tập trung vào nó; nó quá nhàm chán; nó có thể mang lại điều gì? Nó “chẳng là gì ngoài…”. Ý thức đưa ra vô số lời phản đối, trên thực tế, nó thường dường như quyết tâm xóa bỏ các hoạt động tưởng tượng (fantasy-activity) tự phát bất chấp ý định, thậm chí là quyết tâm vững chắc của cá nhân, để cho các quá trình psychic diễn ra mà không bị can thiệp. Trong nhiều trường hợp, tồn tại một sự co giật thực sự của ý thức.
Nếu vượt qua được những khó khăn ban đầu, sự phê bình có thể sẽ xuất hiện sau đó, cố gắng giải thích, phân loại, thẩm mỹ hóa hoặc hạ thấp giá trị của tưởng tượng. Sự cám dỗ này gần như không thể cưỡng lại được. Sau khi quan sát đầy đủ và trung thực, sự thiếu kiên nhẫn của ý thức có thể được tự do; trên thực tế, điều này phải được cho phép, nếu không sẽ phát sinh những trở ngại. Nhưng mỗi khi cần tạo ra chất liệu tưởng tượng, hoạt động của ý thức lại phải được gác lại.
Trong hầu hết các trường hợp, kết quả của những nỗ lực này ban đầu không mấy khả quan. Chủ yếu là do chất liệu tưởng tượng (fantasy-material) điển hình không thể nêu rõ nguồn gốc hay hướng đi của nó. Hơn nữa, cách tiếp cận những tưởng tượng cũng khác nhau ở mỗi người. Đối với nhiều người, viết ra là cách dễ nhất; người khác hình dung, và những người khác lại vẽ hoặc tô màu chúng và khả thị hóa hoặc không. Trong trường hợp ý thức cứng nhắc, đôi khi chỉ có đôi tay mới có thể tưởng tượng; chúng nặn hoặc vẽ những hình thù hoàn toàn xa lạ với ý thức. Những bài tập này phải được tiếp tục cho đến khi sự co thắt trong ý thức được giải tỏa, hay nói cách khác, cho đến khi người ta có thể để mọi việc diễn ra tự nhiên; đó là mục tiêu trước mắt của bài tập. Bằng cách này, một thái độ mới được hình thành, một thái độ chấp nhận những điều phi lý và khó tin, đơn giản chỉ vì đó là những gì đang xảy ra. Thái độ này sẽ là chất độc đối với một người đã bị choáng ngợp bởi những điều vừa xảy ra, nhưng nó lại có giá trị cao nhất đối với một người, với sự phê phán hoàn toàn có ý thức, chỉ chọn lọc những điều xảy ra phù hợp với ý thức của mình, và do đó dần dần tách ra khỏi dòng chảy của cuộc sống đang chảy vào một vùng nước tù đọng.
Tại điểm này, con đường mà hai kiểu người nói trên đã đi dường như tách biệt. Cả hai đều đã học cách chấp nhận những gì đến với họ. (Như Lã Tổ dạy: “Việc đến phải bắt tay làm, vật đến phải hiểu cho rõ ngọn ngành”). Một người chủ yếu tiếp nhận những gì đến từ bên ngoài, người kia tiếp nhận những gì đến từ bên trong, và theo quy luật của cuộc sống, người này sẽ phải tiếp nhận từ bên ngoài những thứ mà trước đây anh ta không bao giờ chấp nhận được, còn người kia sẽ tiếp nhận từ bên trong những thứ mà trước đây luôn bị loại trừ.
Sự đảo ngược bản thể này đồng nghĩa với sự mở rộng, nâng cao và làm giàu nhân cách khi các giá trị trước đó được giữ vững cùng với sự thay đổi, miễn là chúng không chỉ là ảo tưởng. Nếu các giá trị không được giữ lại, người đó sẽ đi sang phía bên kia, từ thích nghi sang không thích nghi, từ khả năng thích ứng sang thiếu khả năng thích ứng, từ có ý nghĩa sang vô nghĩa, và từ lý trí thậm chí sang bệnh tâm thần. Con đường này không phải không có nguy hiểm. Mọi điều tốt đẹp đều phải trả giá, và sự phát triển nhân cách là một trong những điều tốn kém nhất. Đó là vấn đề tự khẳng định với bản thân, coi bản thân là nhiệm vụ quan trọng nhất, luôn ý thức về mọi việc mình làm, và luôn đặt nó trước mắt với tất cả những khía cạnh đáng ngờ của nó – thực sự là một nhiệm vụ chạm đến tận cốt tủy của chúng ta.
Người Trung Quốc có thể dựa vào thẩm quyền của toàn bộ nền văn hóa của họ. Nếu họ bắt đầu con đường dài, họ sẽ làm điều được công nhận là tốt nhất trong tất cả những điều họ có thể làm. Nhưng người phương Tây nào thực sự muốn bắt đầu con đường này thì lại gặp phải toàn bộ trở ngại về mặt trí tuệ, đạo đức và tôn giáo. Do đó, việc một người bắt chước phương pháp của người Trung Quốc và bỏ lại phía sau những điều đáng ngờ của người châu Âu trong chính mình sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Hoặc, chọn một điều khó khăn hơn, anh ta có thể tìm lại con đường trở về với chủ nghĩa trung cổ của Giáo hội Kitô giáo, và xây dựng lại bức tường châu Âu nhằm che chở những người Kitô hữu chân chính khỏi những kẻ ngoại đạo nghèo khổ và những điều kỳ lạ về dân tộc học của thế giới. Sự tán tỉnh về mặt thẩm mỹ hay trí năng với cuộc sống và số phận sẽ kết thúc đột ngột ở đây. Bước tiến tới ý thức cao hơn dẫn họ rời xa mọi nơi trú ẩn và an toàn. Người đó phải hoàn toàn hiến dâng mình cho con đường mới, vì chỉ bằng sự chính trực của mình, anh ta mới có thể tiến xa hơn, và chỉ có sự chính trực đó mới có thể đảm bảo rằng con đường của anh ta không trở thành một cuộc phiêu lưu vô nghĩa.
Dù số phận một người đến từ bên ngoài hay bên trong, những trải nghiệm và biến cố trên con đường ấy vẫn không thay đổi. Vì vậy, tôi không cần phải nói gì thêm về vô số biến cố bên ngoài và bên trong, sự đa dạng vô tận của chúng không bao giờ có thể diễn tả hết. Hơn nữa, làm như vậy sẽ vô nghĩa đối với văn bản đang được thảo luận. Mặt khác, có rất nhiều điều cần nói về những điều kiện psychic đi kèm với sự phát triển tiếp theo. Những điều kiện psychic này được thể hiện một cách hình tượng trong văn bản của chúng ta, và trong chính những biểu tượng mà tôi đã quen thuộc trong quá trình hành nghề của mình nhiều năm nay.