Category Archives: Trẻ con

Các bài liên quan đến nuôi, dạy và chơi với trẻ con

Ảnh hưởng của đồng bọn (với trẻ)

Sự gắn bó (attachment) là điều tối quan trọng với trẻ nhỏ. Chính vì chúng chưa thể tự thân vận động, nên phải gắn bó với một người lớn. Sự gắn bó vật lý trong dạ con là cần thiết cho đến khi cái thai sẵn sàng được sinh ra. Tương tự như thế, những đứa trẻ của chúng ta cần được gắn bó về mặt tâm lý xã hội với ta cho đến khi có thể tự đứng trên đôi chân của mình, có thể tự tư duy và định hướng cho mình.

Sự gắn bó cho phép trẻ “đi nhờ xe” với người lớn, là những người nói chung có khả năng định hướng và hành động tốt hơn. Bố mẹ là la bàn tốt nhất của trẻ – hoặc một người bảo trợ, hoặc thầy cô, có nhiệm vụ thay thế bố mẹ.

Khi lớn, trẻ sẽ trở nên gắn bó với đồng bọn (peer – người ngang hàng) hơn. Khi đó, trẻ sẽ muốn được ở bên và được giống người kia, và đồng bọn đó, bất kể là cá nhân hay nhóm, sẽ trở thành la bàn định hướng của trẻ. Chừng nào trẻ còn chưa tự định hướng được, chúng sẽ tìm cách gần gũi đồng bọn kia, quan sát để học cách hành xử, ăn mặc, nói và làm. Đồng bọn sẽ là trọng tài quyết định cái gì là tốt, cái gì xảy ra, cái gì quan trọng, hay thậm chí quyết định việc đứa trẻ tự coi mình là ai.

Do đó, khi trẻ còn bé (ở trạng thái parent attached), bố mẹ có thể kiểm soát được trẻ (thiên về control), nhưng khi trẻ lớn và trở nên gắn bó với đồng bọn (peer attached), bố mẹ không thể kiểm soát nhiều được, mà phải xây dựng mối quan hệ với trẻ (relationship) và cả với đồng bọn, để nắm được thông tin và có tác động thích hợp (mất công hơn nhiều so với control).

Nguồn: https://sites.google.com/site/childrenslifeonline/home/the-filter

 

.

Tư duy hội tụ và tư duy phân nhánh

(Convergent thinking and divergent thinking)

Divergent Convergent Thinking

Convergent thinking (CT – tư duy hội tụ) là tư duy tập trung vào câu trả lời, là khả năng tìm câu trả lời “đúng” cho những câu hỏi chuẩn mực, không đòi hỏi phải sáng tạo.  Lối tư duy này nhấn mạnh vào tốc độ, độ chính xác, và hiệu quả khi câu trả lời đã có từ trước, chỉ cần nhớ lại hoặc suy luận ra. Đây là lối tư duy kiểu “học thuộc lòng”, là sản phẩm phổ biến của nền giáo dục theo kiểu nhồi nhét. Tư duy này cần thiết, nhưng chỉ cho tình huống phải ra quyết định rất nhanh, hoặc giải quyết vấn đề cũ. Những người thiên về CT rất sợ đưa ra câu trả lời “sai”. Mấu chốt của nó là “tìm câu trả lời”.

Divergent thinking (DT – tư duy phân nhánh) là tư duy bắt đầu bằng câu hỏi và rẽ nhánh ra nhiều giải pháp, ý tưởng khác nhau. Lối tư duy này hiệu quả khi phải sáng tạo, tìm lời giải cho một vấn đề mới (bao gồm cả vấn đề cũ nhưng ở trong hoàn cảnh mới). Tư duy này cần thời gian, và cả thử sai, để đi đến giải pháp tốt nhất. Những người thiên về DT không sợ đưa ra những ý tưởng, giải pháp “ngớ ngẩn”. Mấu chốt của nó là “đặt câu hỏi (đặt vấn đề)”.

Khi làm một việc mới (điển hình là trong một start-up), khả năng DT rất quan trọng, vì ngay cả các vấn đề cũ cũng được đặt trong hoàn cảnh mới, đòi hỏi một câu trả lời khác so với trước. Nếu sử dụng CT và “nhanh chóng” tìm ra câu trả lời, thì tổ chức sẽ đi vào lối mòn và không thể sáng tạo được.

Trẻ con vốn dĩ có khả năng DT rất tốt, tuy nhiên trong quá trình đi học rất dễ bị “giáo dục” trở thành CT (vì trả lời “đúng” thì được điểm cao). Bố mẹ và thầy cô cần giúp trẻ duy trì được khả năng DT của chúng, vì đây mới là khả năng mà robot không có (ít ra là trong tương lai gần).

Các giai đoạn phát triển Tâm lý xã hội của một người (Erikson)

Các giai đoạn phát triển tâm lý xã hội Erikson (Erikson’s stages of psychosocial development) là một lý thuyết phân tích tâm lý học toàn diện, xác định một chuỗi gồm 8 giai đoạn mà một người phát triển lành mạnh sẽ phải trải qua từ lúc lọt lòng cho đến khi già. Ở mỗi giai đoạn, một người sẽ phải đương đầu, và hy vọng là làm chủ được, những thách thức mới. Mỗi giai đoạn được xây dựng trên cơ sở hoàn thành các giai đoạn trước đó. Những thách thức của giai đoạn trước mà chưa được hoàn thành có thể tái xuất hiện trong tương lai dưới dạng các vấn đề.

Tuy nhiên, không nhất thiết phải làm chủ một giai đoạn để chuyển tiếp sang giai đoạn sau. Kết quả của một giai đoạn là không bất biến và có thể thay đổi bởi những trải nghiệm tiếp sau. Lý thuyết của Erikson khắc họa một cá thể đi qua 8 giai đoạn như quá trình dàn xếp giữa lực sinh học của anh/chị ta và lực văn hóa xã hội ở bên ngoài. Mỗi giai đoạn đặc trưng bởi một khủng hoảng tâm lý xã hội tạo ra bởi hai lực mâu thuẫn đó (xem bảng dưới). Nếu một cá nhân hòa giải thành công hai lực đó, anh/chị ta sẽ ra khỏi giai đoạn đó với đức tính cơ bản (virtue) tương ứng. Ví dụ, nếu đứa trẻ bước sang giai đoạn 2 (tự chủ vs hổ thẹn/nghi ngờ) với sự Tin tưởng nhiều hơn là Hoài nghi, nó sẽ mang theo Hy vọng đến các giai đoạn tiếp theo.

Quadrants

Nguồn: wikipedia (xem cuối bài)

(1) Hy vọng: Tin tưởng vs Ngờ vực

Có phải thế giới này là một nơi an toàn hoặc là nó đầy rẫy những chuyện khó lường và có những tai họa chực chờ xảy ra? Khủng hoảng tâm lý xã hội đầu tiên của Erikson xảy ra trong năm đầu của cuộc sống – khủng hoảng giữa Tin tưởng và Ngờ vực. Trong giai đoạn này, trẻ sơ sinh không chắc về thế giới mà chúng đang sống. Để giải quyết những cảm giác không chắc chắn chúng thường dựa dẫm vào người chăm sóc chính của mình.

Nếu sự chăm sóc mà trẻ sơ sinh nhận được là nhất quán, có thể đoán trước và đáng tin cậy, trẻ sẽ phát triển một cảm giác tin tưởng, thứ sẽ được mang theo đến các mối quan hệ khác, và chúng sẽ có thể cảm thấy an toàn ngay cả khi bị đe dọa.

Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến niềm tin (trust). Bằng cách phát triển cảm giác tin tưởng, trẻ có thể hy vọng rằng ngay cả khi có khủng hoảng mới xảy ra thì vẫn có khả năng sẽ có người giúp đỡ chúng. Không có được niềm tin sẽ dẫn đến sự phát triển của sợ hãi. Ví dụ, nếu sự chăm sóc có khắc nghiệt hoặc không phù hợp, không thể đoán trước hoặc không đáng tin cậy, thì trẻ sẽ phát triển một ý thức không tin tưởng và không có niềm tin vào thế giới xung quanh hoặc mất niềm tin về khả năng ảnh hưởng của mình với mọi thứ xung quanh.

(2) Ý chí: Tự chủ vs. Hổ thẹn / Do dự

Đứa trẻ phát triển về thể chất và di chuyển nhiều hơn. Trong độ tuổi từ 18 tháng đến 3 tuổi. Trẻ bắt đầu khẳng định sự độc lập của chúng, bằng cách bước đi ra xa mẹ, nhặt đồ để chơi, và lựa chọn đồ mặc, đồ ăn, v.v

Đứa trẻ khám phá ra rằng nó có nhiều kỹ năng và khả năng, chẳng hạn như xếp quần áo và giày dép, chơi đồ chơi, v.v. Erikson khẳng định điều quan trọng là cha mẹ cho phép con cái của họ khám phá những giới hạn khả năng của chúng trong một môi trường khích lệ, có thể chịu được thất bại. Ví dụ, thay vì mặc quần áo cho một đứa trẻ, cha mẹ nên kiên nhẫn cho phép đứa trẻ cố gắng thử cho đến khi chúng thành công hoặc yêu cầu trợ giúp. Vì thế, các bậc cha mẹ cần khuyến khích trẻ độc lập hơn đồng thời bảo vệ để chúng không liên tục thất bại.

Họ phải cố gắng không làm tất cả mọi thứ cho trẻ, và nếu các trẻ không thành công ở nhiệm vụ nào đó thì họ không nên trách (đặc biệt là khi luyện tập trẻ đi vệ sinh). Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến ý chí (will). Nếu trẻ trong giai đoạn này được khuyến khích và hỗ trợ để trở nên độc lập, chúng sẽ trở nên tự tin hơn và giữ vững khả năng của mình để tồn tại trong thế giới. Còn nếu trẻ em bị chỉ trích, quá kiểm soát, hoặc không có cơ hội để khẳng định mình, chúng bắt đầu cảm thấy không đủ khả năng để tồn tại, sau đó có thể trở nên quá phụ thuộc vào người khác, thiếu lòng tự tôn, và có cảm giác xấu hổ hay nghi ngờ vào khả năng của mình.

(3) Ý muốn: Chủ động vs Mặc cảm về khả năng

Khoảng 4-5 tuổi, trẻ em khẳng định mình thường xuyên hơn. Đây là giai đoạn đặc biệt sống động, là những năm phát triển cực nhanh trong cuộc sống của một đứa trẻ. Trong thời gian này, điểm quan trọng liên quan đến việc trẻ thường xuyên tương tác với các trẻ khác ở trường. Trọng tâm của giai đoạn này là chơi, vì nó cung cấp cho trẻ những cơ hội khám phá các kỹ năng giao tiếp của chúng thông qua các việc khởi xướng các hoạt động.

Trẻ bắt đầu lên kế hoạch hoạt động, tạo nên trò chơi, và bắt đầu hoạt động với những người khác. Nếu có được cơ hội này, trẻ em phát triển ý thức chủ động, và cảm thấy an toàn về khả năng để dẫn dắt người khác và đưa ra quyết định của mình. Ngược lại, nếu xu hướng này bị chấm dứt, hoặc thông qua những lời chỉ trích hoặc bị kiểm soát, trẻ em sẽ phát triển cảm giác tội lỗi. Chúng có thể cảm thấy bản thân giống như một mối phiền toái cho người khác và vì thế chúng chỉ có thể là người theo sau, thiếu sự chủ động.

Đứa trẻ có những sáng kiến mà các bậc cha mẹ thường cố gắng ngăn cản để bảo vệ chúng. Những đứa trẻ thường sẽ vượt qua những ranh giới bị cấm cản và điều nguy hiểm ở đây là các bậc phụ huynh sẽ có xu hướng trừng phạt và hạn chế các sáng kiến của chúng quá nhiều. Ở giai đoạn này đứa trẻ sẽ bắt đầu hỏi rất nhiều câu hỏi với mong muốn phát triển kiến thức. Nếu cha mẹ coi những câu hỏi của trẻ là tầm thường, là phiền toái hoặc xấu hổ hoặc những hành vi khác của chúng là nguy hiểm thì đứa trẻ có thể có cảm giác tội lỗi và cho rằng chúng “là một mối phiền toái”.

Quá nhiều cảm giác tội lỗi có thể làm cho trẻ chậm tương tác với người khác và có thể ức chế sự sáng tạo của chúng. Một số tội lỗi là tất nhiên cần thiết, nếu không trẻ sẽ không biết làm thế nào để luyện tập quyền tự kiểm soát hoặc có lương tâm. Sự cân bằng lành mạnh giữa chủ động và cảm giác tội lỗi là rất quan trọng. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến ý muốn (purpose).

(4) Năng lực: Tài năng vs. Tự ti

Trẻ em đang ở giai đoạn này (từ 5-12 tuổi) sẽ được học đọc và viết, học làm toán, làm mọi thứ một mình. Giáo viên bắt đầu có một vai trò quan trọng trong cuộc sống của trẻ khi họ dạy chúng các kỹ năng chuyên biệt. Ở giai đoạn này nhóm bạn của trẻ sẽ có ý nghĩa lớn hơn và sẽ trở thành nguồn chính cho lòng tự tôn của trẻ. Trẻ bây giờ cảm thấy cần phải giành được sự chấp nhận bằng cách chứng minh năng lực cụ thể có giá trị trong xã hội, và bắt đầu xây dựng niềm tự hào về những thành tích của chúng.

Nếu trẻ em được khuyến khích và củng cố cho các sáng kiến của mình, chúng bắt đầu cảm thấy cần cù và cảm thấy tự tin vào khả năng của mình để đạt được mục tiêu. Nếu sáng kiến này không được khuyến khích, nếu nó bị hạn chế bởi cha mẹ hoặc giáo viên, thì trẻ bắt đầu cảm thấy thua kém hơn, nghi ngờ khả năng của mình và vì vậy có thể không đạt tới tiềm năng.

Nếu trẻ không thể phát triển các kỹ năng đặc biệt mà chúng cảm thấy xã hội đang cần, về sau chúng có thể phát triển theo chiều hướng tự ti. Một số thất bại có thể là cần thiết để trẻ có thể phát triển theo chiều hướng khiêm tốn. Tuy nhiên, một lần nữa, sự cân bằng giữa năng lực và sự khiêm tốn là cần thiết. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến năng lực (competence).

(5) Trung thực: Bản ngã vs Nhầm lẫn vai trò

Trong giai đoạn vị thành niên (tuổi từ 13 đến 19 tuổi), quan trọng nhất là sự chuyển đổi từ trẻ con sang trưởng thành. Trẻ trở nên độc lập hơn, và bắt đầu nhìn vào tương lai dưới dạng sự nghiệp, các mối quan hệ, gia đình, nhà ở, v.v. Cá thể này muốn là một thành phần của xã hội và hòa nhập vào đó.

Đây là một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển, trẻ phải tìm hiểu những vai trò mà chúng sẽ chiếm giữ như một người lớn. Đó là giai đoạn các thanh thiếu niên sẽ xem xét lại bản dạng của mình và cố gắng tìm ra mình là ai. Erikson cho rằng có hai bản dạng liên quan tới giai đoạn này là giới tính và nghề nghiệp.

Erikson tuyên bố rằng người vị thành niên có thể cảm thấy khó chịu về cơ thể của họ trong một thời gian cho đến khi họ có thể thích ứng và “hòa nhập” với những thay đổi. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến trung thực (fidelity).

Lòng trung thực có liên quan đến việc một người có thể hoàn toàn chấp nhận người khác, ngay cả khi có những sự khác biệt về hệ tư tưởng.

Trong khoảng thời gian này, họ tìm hiểu và bắt đầu hình thành bản sắc riêng của họ dựa trên các kết quả của các cuộc khám phá. Thất bại trong việc thiết lập một ý thức về bản sắc trong xã hội (“Tôi không biết mình muốn gì khi lớn lên”) có thể dẫn đến nhầm lẫn vai trò. Nhầm lẫn vai trò liên quan đến các cá nhân không được chắc chắn về bản thân hoặc vị trí của mình trong xã hội.

Để giải quyết vấn đề nhầm lẫn vai trò hoặc khủng hoảng bản dạng, một người vị thành niên có thể trải nghiệm nhiều lối sống khác nhau (ví dụ: công việc, học tập, hoặc các hoạt động liên quan tới chính trị). Đồng thời, việc tạo áp lực bắt một người chấp nhận một bản dạng có thể gây ra sự phản kháng dưới dạng chấp nhận những bản dạng tiêu cực, cộng thêm cảm giác không hạnh phúc.

(6) Tình yêu: Gắn bó vs Cô lập

Xảy ra ở tuổi thành niên (tuổi từ 18 đến 40 tuổi), chúng ta bắt đầu chia sẻ những điều mật thiết của bản thân hơn với những người khác. Chúng ta khám phá mối quan hệ hướng tới những cam kết lâu dài với một người nào đó hơn là thành viên trong gia đình.

Hoàn thành thành công giai đoạn này có thể dẫn đến các mối quan hệ thoải mái và cảm giác cam kết, an toàn và quan tâm trong một mối quan hệ. Tránh sự thân mật, sợ cam kết và các mối quan hệ có thể dẫn đến sự cô lập, cô đơn, và đôi khi trầm cảm. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến tình yêu (love).

(7) Sự quan tâm: Chuẩn bị thế hệ sau vs. đình trệ

Trong tuổi trung niên (từ 40-65 tuổi), chúng ta xây dựng sự nghiệp của chính mình, ổn định trong một mối quan hệ, xây dựng gia đình của chúng ta và phát triển ý thức là một phần của bức tranh lớn hơn.

Chúng ta trả lại cho xã hội thông qua việc nuôi nấng đứa trẻ của mình, làm việc hiệu quả, và tham gia vào các hoạt động và tổ chức cộng đồng.

Nếu không đạt được những mục tiêu này, chúng ta trở nên trì trệ và cảm thấy không hiệu quả. Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến lòng quan tâm (care).

(8) Sự khôn ngoan: Viên mãn vs. Tuyệt vọng

Khi trở nên người cao tuổi (65+ tuổi), ta có xu hướng giảm công việc và khám phá cuộc sống của một người nghỉ hưu. Trong khoảng thời gian này chúng ta chiêm ngưỡng thành quả của mình và có thể phát triển sự hài lòng về bản thân nếu chúng ta thấy mình dẫn đầu một cuộc sống thành công.

Erikson tin rằng nếu chúng ta thấy cuộc sống của chính bản thân không hiệu quả, cảm thấy tội lỗi về quá khứ, hoặc cảm thấy rằng chúng ta đã không thực hiện được mục tiêu cuộc sống của chính mình, chúng ta trở nên không hài lòng với cuộc sống và trở nên thất vọng, thường dẫn đến trầm cảm và tuyệt vọng.

Thành công trong giai đoạn này sẽ dẫn đến sự khôn ngoan (wisdom). Sự khôn ngoan cho phép một người nhìn lại cuộc sống của họ với một cảm giác hoàn thành, và chấp nhận cái chết mà không sợ hãi.

Bài sử dụng một số nội dung từ wikipedia và nguồn, độc giả có thể vào tham khảo để  nắm thêm chi tiết. Vì không tìm thấy nguồn tiếng Việt đủ tốt nên phải viết bài tổng hợp/ tóm tắt này.

 

 

 

4 bài học nuôi dạy con – tổng kết nghiên cứu 2016

1. “Luôn và ngay” (quá nhiều quá sớm) không giúp trẻ phát triển về mặt học thuật. Đưa các chương trình học thuật (academic) vào dạy sớm cho trẻ ở lức tuổi trước khi đến trường không đem lại ích lợi gì. Điều này giống “cầm đèn chạy trước ô tô”. Bọn trẻ cần được học tập tích cực thông qua chơi chứ không phải ngồi học dưới những chỉ dẫn nghiêm khắc của thầy cô.

Học lúc chơi nghĩa là tận dụng những mối quan tâm sẵn có và khả năng của trẻ trong môi trường của những mối quan hệ tích cực. Chơi có hướng dẫn (guided play) là ví dụ tiêu biểu. Người lớn chỉ dẫn (không kiểm soát) cuộc chơi và trẻ con tự làm chủ trò chơi và học qua đó.

2. Vui chơi ngoài thiên nhiên là cốt lõi cho cả trẻ em và người lớn. Ở thời đại điện thoại thông minh và shopping trực tuyến, bạn dễ có xu hướng ngồi sofa cả ngày. Và ta đều biết điều đó không có lợi cho sức khỏe. Nghiên cứu cho thấy các gia đình hay đi ra thiên nhiên hạnh phúc hơn, khỏe mạnh hơn và hòa thuận hơn. Thú vị hơn, những đứa trẻ hay chơi ngoài thiên nhiên với các bạn cũng có được kỹ năng đồng cảm (empathy) rất quý giá. Chúng ta cũng biết được ràng các trò chơi “mạo hiểm” cũng có ích lợi riêng. Hóa ra trẻ con học được những bài học quý thông qua việc sượt đầu gối hay xây xước tay.

3. Kỹ năng cảm xúc quan trọng không kém khả năng học thuật (academic)… nhưng người lớn phải làm gương. Một trong những cuốn sách nuôi dạy con hay nhất của năm cho rằng cần chú trọng dạy trẻ thấu cảm (empathy) thay vì làm sao cho trẻ vào được trường tốt nhất. Sự thấu cảm không những giúp ta trở nên tốt hơn, mà còn làm ta hạnh phúc hơn, sáng tạo hơn và rốt cuộc tạo ra đường tinh thần gắn bó trong cộng đồng.

Sự thấu cảm và lòng trắc ẩn là bẩm sinh một phần, nhưng chúng phải được nuôi dưỡng bới người lớn để phát triển. Nghiên cứu cho thấy trẻ con để ý sự thiếu nhất quán của người lớn trong việc dạy cảm xúc. Nhiều trẻ vị thành niên cảm thấy rằng cha mẹ nói về lòng tốt nhưng thực tế lại đánh giá các thành tích học hành hay thể thao. Nếu ta chỉ nói mà không làm, tụi trẻ sẽ nhận ra và làm theo.

4. Đơn giản hóa nên là tứ khóa mới của bố mẹ. Ngược lại với gì chúng ta tưởng, trẻ con phát triển hơn trong một môi trường đơn giản. Quá nhiều đồ, nhiều hoạt động và kích thích thái quá sẽ làm trẻ trầm cảm (stress). Trẻ không thể tránh khỏi áp lực (stress), nhưng chúng ta có thể giúp chúng học được nhịp độ chậm hơn để cảm nhận đầy đủ được ý nghĩa. Sự đơn giản hóa rất có giá trị với trẻ. Ví dụ nên giảm bớt số đồ chơi của trẻ, sống chậm lại và cảm nhận giá trị của thời gian bên nhau.

Lược dịch từ nguồn The Thoughtful Parent

https://www.funix.edu.vn/wp-content/themes/FUNiX%202016/images/hoc-sinh/FUNiX-logo.png

Một số hướng dẫn phân loại và cất giữ đồ chơi trẻ em

Phân loại đồ chơi theo hạng mục:

  • Đồ chơi tư duy: hướng đến phát triển khả năng tư duy và đồng thời giúp phát triển kỹ năng vận động tinh (fine motor skills). Bao gồm các loại đồ chơi ghép hình (puzzles), đồ chơi phân loại theo hình dáng (shape sorters), đồ chơi đánh đố (brainteasers)
  • Đồ chơi nghệ thuật và sáng tạo: giấy, bút màu, sách tô màu, màu vẽ, đất nặn, đồ làm thủ công và các loại đồ dùng nghệ thuật khác.
  • Đồ chơi vận động tích cực: phát triển kỹ năng vận động thô (gross motor development), bao gồm các loại bóng, xích đu, đồ chơi để cưỡi lên, xe đạp 3 bánh, dụng cụ thể thao, đồ chơi leo trèo.
  • Đồ chơi lắp ghép (building): giúp phát triển kỹ năng vận động tinh. Gồm đồ chơi xếp gỗ, Lego, Megablocks, v.v.
  • Đồ chơi âm nhạc: piano mini, đàn gió, trống, thanh gõ, v.v.
  • Đồ chơi nhập vai (đóng giả): chúng giúp phát triển kỹ năng cộng đồng, cảm xúc và ngôn ngữ, bởi trẻ chơi theo những câu chuyện mà chúng tưởng tượng ra. Bao gồm các loại bộ đồ chơi nấu bếp, xe ô tô, trạm cứu hỏa, thú nhồi bông, hay đồ chơi mặc áo.

Cất giữ đồ chơi theo hộp

  • Cất đồ chơi vào hộp theo mùa: hộp mùa đông thì có người tuyết, các thứ liên quan đến tuyết, v.v. Mùa hè thì đồ chơi nước, đồ chơi ở bãi biển, v.v.
  • Làm các hộp riêng cho từng dịp lễ, ví dụ Halloween, Tết, Phục sinh, Trung thu, v.v.

Nguồn

Xưởng mộc “Niềm vui”

Các bạn ở Southern Utah University (SUU) sang ký kết hợp tác với Đại học FPT. Xong việc, nhóm Funix dẫn các bạn đi Hạ Long chơi 2 ngày. Lúc về kể với tôi: “họ mang theo hai cái túi to, lúc đầu em tưởng quần áo, cũng hơi thắc mắc. Lúc đến nơi, các bạn lấy ra cho bọn trẻ con mới biết toàn là đồ chơi bằng gỗ, em nghĩ là anh thích nên mang về cho anh 1 cái”.

Cầm chiếc ô tô bằng gỗ, tôi tò mò lật xem thì thấy dòng chữ “The Happy Factory“. Sẵn laptop, tra Google thì ra ngay câu chuyện, một câu chuyện mà tôi rất thích và muốn làm theo.

Happy factory

Hai vợ chồng Charles và Donna Cooley vốn làm việc tại SUU. Về hưu năm 1995, họ bắt đầu làm đồ chơi gỗ đem cho xung quanh. Một lần có việc đến bệnh viện, họ mang theo mấy hộp đồ chơi này với ý định tặng cho tụi trẻ ở bệnh viện mà k0 rõ có được đón nhận hay k0. Thật may, bệnh viện và bọn trẻ rất thích, thế là họ về tiếp tục làm, đem đến bệnh viện và nhiều nơi khác. Nguyên vật liệu làm đồ chơi là các mẩu gỗ xin được, nhân công là các tình nguyện viên, nên chi phí cho 1 món đồ chỉ là 50 xu, bao gồm tiền khấu hao dụng cụ, mua bánh xe, v.v. Có những nhà hảo tâm tài trợ cho xưởng để trang trải các khoản này. Đến nay, con số đồ chơi đã vượt qua một triệu, và được đem đến 180 quốc gia.

Được làm đồ chơi bằng gỗ rồi tặng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn là hạnh phúc thật sự, cho nên những người làm ở Happy Factory còn happy hơn tụi trẻ!

Nên lấy vài thứ ngoài những tấm ảnh?

Ở các khu rừng, ta hay thấy tấm biển sau:

Leave nothing take nothing

Nguồn: internet

Khẩu hiệu này được coi là mẫu mực trong việc bảo vệ rừng, nhưng có phải như vậy không? Trong bài “Hãy để tụi trẻ làm loạn trong rừng”, tác giả đặt câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu mỗi người hái một bông hoa? Có lẽ họ sẽ quan tâm hơn đến thiên nhiên?

Đó là câu chuyện về Browning – một anh gác rừng (ranger). Mỗi khi có trẻ con đến rừng và lấy gì đó, ngắt hoa chẳng hạn, anh sẽ hỏi chúng “Cháu vừa ngắt hoa đúng k0? Như thế k0 đẹp. Cháu thử nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra nếu ai cũng ngắt hoa?”, ý là nếu làm vậy thì thiên nhiên sẽ chẳng còn. Cho đến một hôm anh thấy một cậu bé nhặt ít đá cuội, thứ cuội mà họ mua về rải bên đường. Đồng nghiệp của anh cũng hỏi cậu bé tương tự, và anh thấy nỗi thất vọng trong mắt cậu bé. “Thay vì niềm vui khi nghĩ về rừng với kỷ niệm nho nhỏ, nay cậu bé sẽ nghĩ đến rừng quốc gia như là nơi gặp chuyện rắc rối”.

Chuyện đó khiến Browning suy nghĩ, “điều gì sẽ xảy ra nếu mỗi đứa trẻ ngắt một bông hoa hay một hòn đá?” Liệu rừng quốc gia sẽ trở nên hoang địa? Trừ phi đó là những loài hoa quý hiếm hay gì đó tương tự, việc làm trên k0 gây ảnh hưởng gì.

Bọn trẻ k0 chỉ bị cấm thu lượm đồ lưu niệm. Chúng còn bị buộc phải đi theo đường cho trước, không trèo cây, không đào hố, không khuân đá, thậm chí k0 được hét to (“k0 để lại gì ngoài những dấu chân” mà lị). Thế mà cũng gọi là đi chơi ư?

Tất nhiên có những loài cây cần bảo vệ, có những lối đi nguy hiểm cần cấm, nhưng trong mỗi khu rừng đều có thể có khu vực dành cho trẻ con, để chúng có thể “làm loạn”. Những khu vực như thế rất phổ biến ở Bắc Âu, bọn trẻ có thể trèo cây, chạy lung tung, thu thập mẫu sinh vật, v.v. Các khu vực như vậy không hề bị tàn phá, thiên nhiên có thể “chấp nhận” được chuyện này. Được giao lưu thực sự với thiên nhiên như vậy, bọn trẻ có khả năng yêu và bảo vệ thiên nhiên nhiều hơn khi lớn lên.

Trong một khu như thế, Browning thấy một cậu bé 12 tuổi dùng dao chặt các cành cây nhỏ để làm giáo, rồi xây chiến lũy và chơi trò ném đá. Anh hỏi cậu ta liệu cậu có đâm dao vào gốc cây, cậu bé hốt hoảng “Không! Nó sẽ làm cây bị thương, cũng giống như làm cháu bị thương vậy!”. “Đó chính là ý thức mà chúng ta muốn dạy trẻ con!” – Browning kêu lên – “không phải bằng cấm đoán tẻ nhạt, không bằng những khẩu hiệu kêu gọi xả thân kiểu “không để lại gì…”, mà bằng mối tương quan tích cực với thiên nhiên, bằng sự cảm thông với những thực thể sống”. Đó là một kiểu ý thức tốt hơn, một cách tốt hơn để giáo dục tụi trẻ thành những người lớn quan tâm chăm sóc thiên nhiên. Chính những người lớn như Browning cũng đã có tuổi thơ sống giữa thiên nhiên như vậy.

Nếu đứa trẻ vào rừng mà chỉ lấy “những bức ảnh đẹp” như trong tấm biển trên kia thì đúng là chán thật. Đừng mong rủ nó đi lần nữa.

 

Dự án INVENTORS!

(Mình thích dự án này quá, sẽ cố gắng làm 1 cái trong tương lai)

inventors-project-dominic-wilcox-266

Trong dự án này, nghệ sỹ – nhà sáng chế Dominic Wilcox (Anh) đã tổ chức 19 workshop về sáng chế cho bọn trẻ từ 4-12 tuổi, mỗi workshop kéo dài 2h.  Ông đã trình diễn các sáng chế của bản thân, rồi đề nghị tụi trẻ vẽ ra những ý tưởng sáng chế của chúng, có thể điên rồ hoặc hữu dụng. Bọn trẻ được khuyến khích nghĩ về các vấn đề của chính chúng, hoặc của người thân trong nhà, rồi nghĩ ra các sáng chế để giải quyết các vấn đề đó.

Wilcox thu thập được 600 ý tưởng, chọn ra khoảng 60 cái rồi nhờ các nhà sản xuất hiện thực hóa các ý tưởng đó trong 4 tuần. Trong thời gian đó, các nhà sản xuất gặp gỡ trao đổi với các tác giả nhí để hiểu rõ hơn ý tưởng của chúng. Điểm mấu chốt là các nhà sản xuất không can thiệp vào thiết kế, mà làm đúng như bọn trẻ hình dung!

Cuối cùng, một triển lãm được tổ chức để trình bày ra công chúng các sản phẩm và các ý tưởng. Các nhà sáng chế nhí rất thích thú khi được cùng cha mẹ, ông bà mình trải nghiệm sản phẩm được làm ra từ ý tưởng của chúng.

Chắc trong số bọn trẻ này sẽ có các nhà sáng chế giỏi của tương lai.

Bổ sung 10/6/2019: một số sáng chế thú vị của Wilcox

Kỹ năng lập trình là kỹ năng HOT

HOT ở đây k0 phải là nóng hay mốt, mà là Higher Order Thinking (năng lực tư duy bậc cao). Về cơ bản, khái niệm này gắn với Bloom Taxonomy, phần Nhận thức (cognitive): thang Bloom có 6 cấp độ, thì 3 cấp độ dưới (Remembering, Understanding, Applying) là Lower Order Thinking (LOT), 3 cái trên là HOT.

blooms

Giáo dục phổ thông, nhất là ở Việt Nam, vốn đã nặng về kiến thức nhẹ về kỹ năng, nhưng ngay trong phần kỹ năng cũng chỉ tập trung vào LOT: yêu cầu học sinh học thuộc, hay giải thích được ý nghĩa câu thơ, sử dụng công thức để tính diện tích hình tròn, v.v. còn các kỹ năng HOT thì bỏ ngỏ. Khách quan mà nói, cũng vì các kỹ năng HOT rất khó dạy.

Với sự phát triển của công nghệ, các kỹ năng LOT dần trở nên không cần thiết. Thay vì phải nhớ nhiều thứ, ngày nay ta có thể dùng các công cụ tìm kiếm trên mạng để tìm được thứ mình cần. Ông Sugata Mitra, tác giả của mô hình SOLE (Self Organized Learning Environment), khẳng định: “việc biết đã trở nên lỗi thời” (knowing is obsolete).

Ở các nước phát triển, người ta chú trọng đưa các kỹ năng HOT vào dạy từ rất sớm. Ví dụ ở một trường tiểu học, kỹ năng HOT được đưa thành mục tiêu giáo dục hàng đầu (ảnh). Việc “học tốt” các môn học truyền thống (Academic Achiever) chỉ là một phần rất nhỏ so với nhiều kỹ năng mà bọn trẻ cần:

SIS SLO

Cả LOT và HOT đều được coi là “tư duy”, nhưng “tư duy” thực sự chỉ xảy ra khi cần áp dụng các kỹ năng HOT như Phân tích, Đánh giá hay Sáng tạo. Kỹ năng bậc thấp chỉ được dùng làm nền cho kỹ năng tư duy bậc cao. Áp dụng các kỹ năng bậc thấp thì rất đơn giản, giống như phản xạ tự nhiên, và cho ra kết quả như nhau. Chính vì kết quả được biết trước, nên các kỹ năng bậc thấp có thể được đánh giá, cho điểm một cách dễ dàng (ví dụ cô giáo đánh giá học sinh có thuộc bài thơ hay k0). Ngược lại, các sản phẩm (kết quả) có được khi học sinh áp dụng các kỹ năng tư duy bậc cao rất đa dạng và khó đánh giá hơn nhiều, đòi hỏi thầy cô giáo phải có năng lực cao hơn (chính là năng lực Đánh giá trong thang Bloom). Có lẽ đó cũng là một nguyên nhân cản trở việc dạy HOT ở trường.

Học sinh có kỹ năng HOT nghĩa là có khả năng tư duy độc lập (critical thinking) bao gồm suy luận, ra quyết định, giải quyết vấn đề, thuyết phục người khác, v.v. Lướt qua “cộng đồng mạng” Việt Nam, ta có thể thấy đây chính là những kỹ năng thiếu vắng nhất: rất nhiều người k0 phân biệt được thông tin nào liên quan thông tin nào không, nhìn được nhiều mặt của vấn đề, đánh giá mức độ tin cậy của nguồn tin, phát hiện các giả định (assumption) được dùng trong suy luận, phát hiện định kiến hoặc lỗi logic.

Tại sao lại có hiện tượng đó? Tại sao số người có khả năng tư duy độc lập lại k0 nhiều? Ngẫm từ bản thân, tôi cho rằng một nguyên nhân quan trọng là chúng ta k0 được rèn luyện HOT ở trong trường. Các môn xã hội cho phép rèn luyện HOT như Lịch sử, Văn học thì thay vì phản biện, tìm luận chứng, đặt giả thiết lại bắt trẻ con làm theo mẫu, học thuộc lòng – mọi phát kiến, kết quả trái ngược với “chân lý” cho trước đều bị vùi dập k0 thương tiếc. Các môn tự nhiên thì thay vì tự quan sát hiện tượng để phát hiện định luật, công thức thì được yêu cầu học thuộc lòng công thức rồi máy móc áp dụng.

Vậy trẻ con sẽ thu lượm được gì khi học lập trình? Có phải tất cả chúng sẽ trở thành lập trình viên trong tương lai? Có, nếu chúng lựa chọn. Còn nếu k0, thì chúng họ được khả năng tư duy trình tự (procedural), biết cách phân tích bài toán, phát hiện kiểu hình (pattern), đánh giá các phương án giải quyết, và sáng tạo ra được sản phẩm của mình, k0 giống với bất kỳ ai. Tất cả những kỹ năng HOT đó sẽ giúp bọn trẻ trong mọi hoạt động học tập và làm việc sau này.

Đó là HOT – kỹ năng tối quan trọng của thế kỷ 21, và cũng là mục tiêu của CLB lập trình viên nhí (YPC).

Yevgeny Leonov: thư gửi con trai, 1974

“Andrey, hãy yêu bố như bố yêu con. Con biết tình yêu là tài sản to lớn nhường nào. Thật ra, nhiều người cho rằng tình yêu của bố với con có gì đó không đúng đắn, chỉ gây hại. Mà có khi thế thật, có khi tình yêu của bố cản trở không cho con trở thành một học sinh gương mẫu? Vì trong suốt những năm phổ thông, chưa khi nào bố đánh đòn con cả.

Con nhớ k0, có lần con làm mặt hề khi lên bảng. Cả lớp được trận cười, còn bố thì bị cô giáo trách móc ra trò. Lúc đó bố đứng thểu não trong góc như một thằng bé phạm tội, còn cô giáo mắng liên tục, nào là con đã phá hỏng tiết học, nào là lớp không học được gì suốt 45 phút, con chẳng biết cái gì và không cho người khác học, con sẽ bị đuổi học, con k0 nghe lời…”

Quần áo bố ướt đẫm mồ hôi mà cô giáo vẫn chưa thôi. “Được rồi, hôm nay phải cho nó một trận ra trò. Đủ lắm rồi!” – bố nghĩ vậy khi đi qua sân trường ra đường. Vì quá xúc động, bố không thể ngồi lên taxi hay xe buýt, mà cứ thế đi bộ. Một phụ nữ xách túi nặng đi ngang qua cùng một đứa bé đang khóc, thấy bố và mỉm cười. Một người không quen biết cất lời chào. Làn gió mùa thu thổi qua. Lúc gần đến nhà, bố có cảm giác là đã ăn đòn và chấp nhận nó. Vào đến nhà, bố đã quên về “một trận ra trò”, và khi thấy con, bố bảo “Con làm mặt hề gì mà cả lớp khoái chí thế, làm lại bố xem nào?”. Hai bố con cùng cười.

Vì thế mà bố viết thư này, để sửa chữa điều gì đó không đúng đắn, và chắc sẽ tỏ ra nực cười và ngây ngô như một số vai diễn mà mình từng đóng.  Nhưng đó chính là bố! Về bản chất, anh bạn thân mến ạ, không có gì giản dị hơn nỗi lo lắng của trái tim người bố.

Mỗi khi bố đi công tác xa một mình, khi buồn, bố nhớ từng lời, từng câu hỏi của con, và bố muốn chuyện trò với con mãi, cảm giác là cả cuộc đời cũng không đủ dài để chuyện trò. Nhưng con biết không, điều quan trọng nhất bố phát hiện ra sau khi bà nội con mất. Andrey ạ, nếu trong đời con có một người mà con không sợ tỏ ra bé nhỏ, ngu ngốc, trần trụi không che dấu trước người đó, thì người đó chính là thần hộ vệ của con.

Bố sắp về rồi.
Leningrad, 3.X.74”

Yevgeny Leonov (1926-1994) là một trong các diễn viên được yêu thích nhất ở Liên Xô, nội dung bức thư trên mạng tiếng Nga, xin được lược dịch ra tiếng Việt.