Phân biệt: repression và suppression

RepressionSuppression là hai cơ chế phòng vệ tâm lý với tên gọi dễ gây nhầm lẫn, nhất là khi chưa có một cách dịch nhất quán sang tiếng Việt. Repression được dịch là đè nén, ức chế, dồn nén, kìm nén; còn suppression được dịch là đàn áp, xóa bỏ, kiềm chế, v.v. Tiếng Trung đều được dịch là 抑制 (ức chế). Vậy chúng khác gì nhau?

Điểm khác biệt giữa R và S là, R thuộc về vô thức còn S là có ý thức. R là việc ngăn chặn những suy nghĩ hoặc xung động không mong muốn một cách vô thức, còn S là hoàn toàn có ý thức, tự nguyện. Ví dụ, khi ta cố tình quên hoặc không nghĩ về những suy nghĩ đau đớn thì gọi là S.

Continue reading

Portia Nelson. Tự truyện trong năm chương ngắn

Portia Nelson. Autobiography In Five Short Chapters, 1977.

1
I walk down the street.
There is a deep hole in the sidewalk
I fall in.
I am lost … I am helpless.
It isn’t my fault.
It takes me forever to find a way out.

2
I walk down the same street.
There is a deep hole in the sidewalk.
I pretend I don’t see it.
I fall in again.
I can’t believe I am in the same place
but, it isn’t my fault.
It still takes a long time to get out.

3
I walk down the same street.
There is a deep hole in the sidewalk.
I see it is there.
I still fall in … it’s a habit.
my eyes are open
I know where I am.
It is my fault.
I get out immediately.

4
I walk down the same street.
There is a deep hole in the sidewalk.
I walk around it.

5
I walk down another street.

1
Tôi đi dọc con phố
Có một cái hố sâu trên lối đi
Tôi ngã vô
Tôi lạc rồi…Tôi bất lực
Nào phải lỗi của tôi
Sẽ mất cả đời để tìm lối thoát

2
Tôi vẫn đi dọc con phố ấy
Có một cái hố sâu trên lối đi
Tôi làm ra vẻ không nhìn thấy
Tôi lại ngã vô
Không thể tin là tôi lại rơi vào đó
Nhưng chẳng phải lỗi của tôi
Sẽ mất rất lâu để tìm lối thoát

3
Tôi vẫn đi dọc con phố ấy
Có một cái hố sâu trên lối đi
Tôi nhìn thấy nó
Tôi vẫn ngã vào…vì thói quen
Nhưng mắt tôi mở
Tôi biết mình ở đâu
Lỗi của tôi
Tôi trèo ra ngay lập tức

4
Tôi vẫn đi dọc con phố ấy
Có một cái hố sâu trên lối đi
Tôi đi vòng qua nó

5
Tôi đi dọc một con phố khác.

Phân biệt: Cưa và Dao răng cưa

Cưa

Cưa cầm tay cơ bản có hai loại lưỡi: lưỡi cưa xẻ (crosscut saw) và lưỡi cưa rong (rip saw).

Lưỡi cưa xẻ (crosscut saw) – hai hàng lưỡi dao so le nhau
Lưỡi cưa rong (rip saw) – hai dãy đục so le nhau

Cưa xẻ dùng để cắt ngang thớ gỗ, cưa rong để cắt dọc thớ. Trong cả hai loại, các răng cưa không thẳng hàng mà so le với nhau, do đó rãnh cưa rộng hơn một chút so với độ dày của lưỡi cưa, khiến lưỡi cưa không bị kẹt.

Cưa rong hoạt động như vô số cái đục, đục liên tiếp vào gỗ. Nếu cưa dọc thớ, cưa rong có tốc độ nhanh hơn, và không làm nham nhở mép cưa.

Cưa xẻ hoạt động như hai dãy dao cắt hai bên đồng thời đục bỏ phần gỗ ở giữa hai vết cắt. Khi cưa ngang thớ, nếu dùng cưa rong thì giống như ta đục ngang thớ gỗ, thớ gỗ sẽ bật lên khiến mép cưa nham nhở. Nếu dùng cưa xẻ, thì bởi vì dao đã cắt hai bên thớ, nên khi phần gỗ ở giữa bị đục bỏ thì không làm nham nhở mép cưa.  

VERITAS Gent's Saws | FINE TOOLS
So sánh vết cưa của hai loại cưa

Dao răng cưa

Dao răng cưa (serrated knife) có lưỡi trông giống lưỡi cưa nhưng rất khác. Khác biệt ở chỗ các răng cưa đều nằm về một phía chứ không đối xứng qua trục lưỡi dao, tức là so với cưa xẻ có hai dãy lưỡi dao thì dao răng cưa chỉ có một dãy. Dao răng cưa cắt sẽ không tạo ra mùn cưa.

5 Ways to Use a Serrated Knife…Other Than Cutting Bread! | Kitchn
Dao răng cưa – tất cả răng nằm về một mặt của lưỡi dao

Quy tắc Trật tự Robert

Quy tắc Trật tự Robert (Robert’s Rules of Order – RONR) là bộ quy tắc nổi tiếng quy định chi tiết thủ tục họp nghị viện (parliamentary procedure), và được rất nhiều tổ chức đủ loại sử dụng để tiến hành các cuộc họp cho các thành viên. Nó bao gồm một tập hợp các quy tắc để tiến hành các cuộc họp có trật tự nhằm hoàn thành các mục tiêu một cách công bằng. Xin giới thiệu bản rút gọn các ý chính, có thể áp dụng cho các cuộc họp thành viên của ủy ban, nhóm đồng đẳng, cộng đồng, v.v.

Continue reading

Thế nào là phản động?

Phản động nghĩa là chống lại sự vận động của xã hội. Do đó, ngày trước, những người từng ở vị trí đấu tranh để thay đổi xã hội gọi những kẻ cầm quyền ngăn cản họ là phản động. Nhưng khi họ lên nắm quyền, từ đó lại được sử dụng để gọi những người muốn xã hội tiếp tục vận động, nhưng theo cách khác với quan điểm của họ. Cũng thấy rằng từ này hay được những người theo quan điểm bạo lực cách mạng sử dụng, các nhà đấu tranh ôn hòa không dùng nó, có lẽ vì họ hiểu rằng nhà cầm quyền cũng muốn xã hội có vận động, chỉ là bằng cách khác. Tức là bao dung hơn.

Mong muốn cải thiện xã hội có thể được thực thi bằng nhiều cách, mà đơn giản nhất có lẽ là lên tiếng, nhất là khi thấy điều gì trái với hình dung của bản thân về sự tiến bộ. Với sự phát triển của công nghệ, ngày nay mỗi người đều có một cái micro và cử tọa của mình trên mạng, để chia sẻ và bàn luận.

Nỗ lực lên tiếng gặp phải nhiều cản trở. Đôi khi là sự mạt sát, đôi khi là những lời khuyên có vẻ tử tế kiểu “không ăn thua gì đâu, mà có khi lại mang vạ” mà thật ra là có ý đồ khiến người ta buông xuôi, chấp nhận. Cũng có khi là chia sẻ của một người cũng thấy bất công nhưng cam chịu: “cái này ai chẳng biết, anh từ trên trời rơi xuống à?”.

Như George Orwell nói, trong một xã hội nhiều dối trá, thì bản thân việc nói ra sự thật là một hành động cách mạng. Ông cũng nói, đôi khi nghĩa vụ trước nhất của trí thức là phát biểu lại về một điều hiển nhiên. Nếu phát biểu để chỉ ra một điều sai trái hiển nhiên mà ai cũng biết nhưng lặng lẽ chấp nhận là “phản động”, thì cậu bé của Andersen xứng đáng là kẻ phản động nổi tiếng nhất thế giới, khi nói to câu “hoàng đế cởi truồng”.

Vì vậy, một cách để góp phần làm xã hội tốt đẹp hơn là bày tỏ một cách ôn hòa quan điểm của mình, cho dù ban đầu việc đó có thể tỏ ra vô ích đến đâu. Bởi vì rốt cuộc, văn hóa chính là những gì được mọi người chấp nhận.

Neo sự nghiệp (career anchor)

Giới thiệu. Cả nhân viên lẫn công ty đều tìm cách phát huy tối đa năng lực và đóng góp của nhân viên, thông qua một lộ trình thăng tiến sự nghiệp. Các bước đi tiếp theo trên lộ trình đó thường gắn với thành tích, nguyện vọng của nhân viên và nhu cầu của tổ chức. Nếu hai bên biết được loại sự nghiệp nào mà nhân viên ưa thích, thì việc thăng tiến sẽ trở nên hiệu quả hơn, không xảy ra “nhầm chỗ”. Ví dụ có nhân viên thích quản lý chung, có người thì lại thích làm chuyên môn, mà đôi khi họ cũng không thực sự ý thức được.

Edgar Schein đã xác định 8 loại như vậy, và đặt tên là neo sự nghiệp (career anchor). Nếu áp dụng khái niệm này, công ty và nhân viên sẽ tìm được con đường hiệu quả nhất và nhanh nhất.

Continue reading

Giao kèo Tâm lý (Psychological Contract)

Trong quan hệ giữa công ty và người lao động, những gì được quy định trong Hợp đồng lao động và Nội quy là quá khái quát. Thực tế là hai bên duy trì những ngầm định và kỳ vọng về nhau dưới dạng một giao kèo bất thành văn, được đặt tên là psychological contract. Có 5 giai đoạn hình thành nên giao kèo, từ lúc người lao động bắt đầu quan tâm (và hình thành kỳ vọng!) về công ty. Có 8 giai đoạn mà người lao động trải qua, cứ mỗi lần chuyển là một lần thay đổi giao kèo (ví dụ nếu tôi được bổ nhiệm thì tôi sẽ có kỳ vọng mới). Nắm được và sử dụng các yếu tố này có thể giúp tăng năng suất và động lực của nhân viên. Ví dụ sau mỗi lần đánh giá kết quả công việc lại xếp nhân viên vào 1 trong 8 nhóm để có hành động phù hợp.

Continue reading

Ứng dụng các lý thuyết về phát triển nhân cách

Bài tổng hợp này nhằm mục đích xác định xem bố mẹ có thể vận dụng được gì trong các lý thuyết phát triển nhân cách này để dạy con, sao cho cách dạy phù hợp với sự phát triển của trẻ. Cuối bài có các chỉ dẫn đến các bài viết chi tiết hơn.

Nhân cách (personality, tính cách) là thứ mà mọi người hay nghĩ đến. Khi gặp những người mới, cho dù ở công sở, trường học hay các sự kiện xã hội, ta thường để ý ngay vào tính cách của họ: tốt bụng, tử tế, hướng ngoại hay nhút nhát.

Continue reading

Thay đổi văn hóa doanh nghiệp: lỗi thường gặp

“Thay đổi văn hóa” là giải pháp mà các lãnh đạo hay tìm đến mỗi khi thấy có vấn đề nội bộ nào đó. Thông thường, họ sẽ mời tư vấn đến khảo sát, đánh giá và đưa ra các khuyến nghị, hoặc mời tư vấn đến giúp xây dựng một “văn hóa mới”. Văn hóa mới này sẽ là một danh sách các giá trị cốt lõi, quy tắc ứng xử, v.v. được viết ra, treo lên, truyền dạy cho nhân viên. Các cá nhân và tập thể sẽ được theo dõi và đánh giá theo các “giá trị văn hóa” đó. Và sau một thời gian tổ chức sẽ tuyên bố thắng lợi hoặc để mọi thứ chìm dần.

Continue reading

Sự phát triển của vị thành niên

Vị thành niên (adolescence) là giai đoạn bắt đầu với tuổi dậy thì và kết thúc khi chuyển sang tuổi trưởng thành (khoảng 10–20 tuổi). Những thay đổi về thể chất liên quan đến tuổi dậy thì được kích hoạt bởi các hormone. Những thay đổi về nhận thức bao gồm: cải thiện khả năng tư duy phức tạp và trừu tượng, cũng như tốc độ phát triển khác nhau của các phần khác nhau của não bộ. Điều này làm tăng khả năng vị thành niên có những hành vi mạo hiểm, bởi vì lòng mong muốn tìm kiếm cảm giác mạnh và sự tán thưởng lại phát triển trước khả năng kiểm soát nhận thức.

Continue reading