Bài luận của Andrew Trousdale về cuốn sách “Giải trí đến chết” của Postman, với việc đối chiếu vào các phương tiện social media ngày nay. Bài đăng trên substack After Babel của Jonathan Haidt ngày 24/2/2025, bản dịch lược bỏ phần giới thiệu của Haidt.
The Price of Mass Amusement
Những cảnh báo có tính tiên tri của Neil Postman về việc các công nghệ truyền thông mới bắt ta đánh đổi những gì.
Một bài viết gợi suy nghĩ của Seth Godin. Ổng nhắc lại lý thuyết của Innis về 2 chiều lan tỏa của văn hóa – không gian và thời gian, giải thích tại sao AI ko phải là một phương tiện truyền thông (thao túng) mới, mà là cơ hội để mọi người làm chủ và đi sâu vào trong bản thân, thay vì “đi rộng” qua các mạng xã hội thao túng, cam tâm tiếp tục làm những con cừu và hài lòng vì thấy nhiều cỏ hơn.
Với mỗi nội dung ta tạo ra, ta có thể tự hỏi là đang đi rộng theo không gian hay đi sâu theo thời gian, tự hỏi là liệu sau 6 tháng 1 năm thì nội dung đó có còn giá trị? Góc nhìn này khá giống với khái niệm stock và flow trong truyền thông, được đề cập trong bài này.
Bản dịch tiếng Việt có nhiều chỗ không chính xác, tuy nhiên có 2 chỗ có thể dẫn đến việc người đọc hiểu sai và làm sai, do đó tôi nêu ra ở đây.
1. Thói quen nhỏ (micro-habit)
Tác giả khuyên nên xác định các thói quen cực nhỏ để có thể thực hiện trong 60 giây, nhưng dịch giả lại hiểu thành “có thể mô tả trong vòng 60 giây” (trang 33 và 36). Độc giả mà hiểu theo cách này thì nguy to, bởi vì để mô tả được một thói quen cực nhỏ này, ta sẽ phải suy nghĩ thực sự sâu sắc, do đó sẽ mất nhiều thời gian.
2. Về câu nói của Eisenhower
Ở trang 186, tác giả dịch câu nói của Eisenhower “plans are useless, but planning is indispensable” là “mọi kế hoạch đều vô ích nhưng chúng ta luôn cần lên kế hoạch”. Câu dịch này tối nghĩa và có thể khiến độc giả ko hiểu.
Eisenhower còn được quote 1 câu tương tự “the plan is nothing, the planning is everything”. Ý của ổng là “Bản kế hoạch ko là gì cả, nhưng việc lên kế hoạch thì rất quan trọng”. Mọi việc sẽ xảy ra không theo những gì viết trong bản kế hoạch, nhưng việc cùng nhau lên kế hoạch khiến mọi người nắm được vấn đề và xử lý hiệu quả trong quá trình.
Bản dịch đã tái bản đến lần thứ 5 mà ko hiểu sao vẫn có những lỗi như vậy.
Trong bộ phim, tên phát xít giết nhân vật tôi đóng. Hắn bắn trực diện vào giữa ngực anh ta. Và tôi đã mỉm cười. Tôi yêu nhân vật đó. Cuộc đời anh đắng cay, chân khập khiễng Bị thế kỷ quay cuồng vặn xoắn và phá tung Và giờ giết anh, chẳng cho nói một lời vĩnh biệt. Đạo diễn bảo tôi: Hãy bỏ nụ cười đi. Tại sao anh lại cười cơ chứ? Cảnh đó chúng tôi phải quay đến mười lần. Nhưng vẫn thế vì tôi hiểu bản chất vai mình đóng: Nơi đây sống và chết bước vào trận cuối. Và sự sống đã thắng, vì nhân vật mỉm cười. Vào giây cuối anh nhìn lại những gì đã sống Và tất nhiên nhận ra kết thúc đã đến rồi Nhưng mỉm cười, đón viên chì nóng bỏng. Tôi chưa xem tập đó, tập phim họ giết tôi. Tôi hy vọng vẫn có cảnh tôi cười. Một nụ cười sẽ sống mãi từ đây.
Bài bình luận trên The Insider (Theins.ru) ngày 9/12/2024.
Sự sụp đổ của gia tộc Assad và chế độ của họ ở Syria là một tổn thất to lớn đối với Iran, mạng lưới ảnh hưởng của nó ở Trung Đông coi như đã tiêu tan. Mọi chuyện bắt đầu từ Hamas, sau đó là Hezbollah ở Lebanon và bây giờ là Syria. Vladimir Putin cũng mất nhiều từ sự sụp đổ của chế độ Syria. Vốn dựa vào liên minh quân sự với Iran, do đó không giữ cân bằng giữa hai phe Sunni và Shiite, Nga đã mất gần như tất cả những gì mình có ở Trung Đông, và bây giờ cũng mất cả các căn cứ quân sự, mà nếu không có chúng thì sẽ gần như không thể duy trì ảnh hưởng của Nga ở Châu Phi. Theo Ivan Preobrazhensky – nhà báo chuyên mục quốc tế của The Insider, đây là kết quả của việc Nga thiếu một chiến lược trong chính sách đối ngoại. Thay vào đó, điện Kremlin đã ưu tiên các liên minh chiến thuật và lòng trung thành cá nhân của các đối tác.
Coach Carter là một bộ phim do Samuel L Jackson thủ vai chính, dựa trên một câu chuyện có thật. Carter nhận lời làm HLV cho đội bóng rổ của trường cấp 3 Richmond, và biến đội bóng từ một nhóm rời rạc, thường xuyên thua, thành một đội đoàn kết, chiến thắng và giành cúp.
Chuyện ko có gì đặc biệt nếu chỉ dừng ở đó. Richmond là một trường có thành tích học tập rất kém, với chỉ 6% học sinh vào được đại học. Đa số mọi người, kể cả hiệu trưởng và phụ huynh, đã chấp nhận tình trạng đó, nên rất ngạc nhiên thậm chí tức giận khi biết Carter yêu cầu các cầu thủ phải có kết quả học tập đủ cao, phải đi học đủ tiết, và ngồi bàn đầu, thì mới được vào đội bóng.
Carter làm thế vì ông muốn sau này các học sinh sẽ được vào đại học, thay vì vào tù hay thậm chí chết sớm trong các hoạt động tội phạm đường phố, như chuyện vẫn xảy ra trước nay. Ông cực đoan đến mức, khi biết các học trò học hành chểnh mảng, đã không cho chúng luyện tập và thi đấu giải, chấp nhận bị xử thua. Rốt cuộc bọn nhỏ đã chịu học, vẫn thi đấu xuất sắc, và đều được vào đại học.
Điều gây ấn tượng với tôi là đoạn hội thoại ngắn giữa Carter và cô hiệu trưởng. Khi biết ổng cấm bọn trẻ thi đấu, có khả năng mất chức vô địch giải bóng, cô hiệu trưởng gặp ổng nói:
– Ông có biết, ông đang tước mất thành quả quan trọng nhất đời của chúng? Carter đã trả lời:
– Theo tôi, đó mới chính là vấn đề, cô có nghĩ vậy ko?
Mọi mối quan tâm, mọi sự chú ý của người lớn dồn vào thành quả nhất thời của bọn nhỏ (và tất nhiên đem lại niềm vui và sự hãnh diện cho họ), và đó là điều có thể tước đi tương lai của lũ trẻ.
Tôi thử phân loại các giáo viên theo 2 chiều như hình kèm theo. Trục hoành là mối quan hệ giữa GV và học trò (có thể gọi là Tâm), trục tung là định hướng của GV đến việc dạy trẻ (có thể gọi là Trí). Người thầy mà chúng ta muốn nằm ở góc trên bên trái.
Nhân 20/11, xin chúc các thầy cô những điều tốt đẹp nhất, để các thầy cô nhân lên để rồi mang chúng đến cho học trò.
PS. Có rất nhiều bộ phim hay về chủ đề giáo dục, có thể giúp các thầy cô chiêm nghiệm. Tôi có lập một danh sách và cho điểm, ai quan tâm có thể tham khảo theo link.
Lời ND: bài viết này giải thích rất dễ hiểu về thể loại văn học của Alexievich, nhà văn Belarus được giải Nobel Văn chương 2015. Ở Việt Nam cũng có một vài nhà văn viết theo thể loại này.
Ghi chú về một số từ quan trọng trong cuốn Grit: the Power of Passion and Perseverance của Algela Duckworth, tựa của bản dịch tiếng Việt là “Vững tâm bền chí ắt thành công. Grit. Sức mạnh của đam mê và kiên trì”.
Grit nên dịch là gì?
Bản tiếng Việt dịch grit là Bền bỉ. Đồng thời dịch perseverance là Kiên trì. Hai từ này tạo cảm giác giống nhau khi đọc. Ngoài ra còn có thêm Vững tâm và Bền chí, khiến cho mọi thứ cứ na ná nhau hết cả.
Một phiên bản dịch grit sang tiếng TQ là Đởm lượng (hoặc Đảm lượng, 胆量). Đởm là mật, Đởm lượng là kiểu Lớn mật. Từ Đởm lượng được dùng nhiều trong truyện kiếm hiệp. Theo lời kể của Việt Phương, tướng Nguyễn Sơn từng phát biểu trong một cuộc họp giai đoạn Toàn quốc kháng chiến: “Cuộc chiến sắp tới sẽ lâu dài tàn bạo vô cùng. Phần thắng chỉ giành cho ai đủ ý chí, đởm lượng.“
Như vậy, grit có thể được dịch là Đởm lượng.
Perseverance nên dịch là gì?
Trong sách, tác giả đề xuất công thức Grit = Passion & Perseverance. Passion dịch là đam mê, còn perseverance nên dịch là gì?
Tiếng Anh có hai từ có nghĩa rất gần nhau: persistence và perseverance. Nếu dịch ra tiếng TQ, ta có thể có phương án Kiên trì 坚持 và Nghị lực 毅力.
Hai từ tiếng Anh này khác gì nhau? Có một giải thích dễ hiểu và phù hợp với nội dung cuốn sách: persistence là khi bạn theo đuổi làm một việc gì đó mà bạn biết trước là kết quả sẽ như thế nào, còn perseverance là bạn theo đuổi làm một việc mà bạn KHÔNG biết là kết quả sẽ thế nào. Như vậy, perseverance thường là một quá trình kéo dài hơn rất nhiều, và – khác với persistence – có thể khiến bạn bỏ cuộc vì thấy tương lai mờ mịt. Như vậy, nếu nói về theo đuổi đam mê, theo đuổi sự nghiệp, thì perseverance sẽ là từ phù hợp hơn, vì không rõ kết quả trông sẽ thế nào.
Vậy thì nên dịch perseverance là Nghị lực, còn Kiên trì thì dành cho persistence. Ta có:
Grit = Passion & Perseverance Đởm lượng = Đam mê & Nghị lực
75 năm trước, ngày 23/8/1939 Liên xô và Đức ký Hiệp ước không xâm lược, có tên là Hiệp ước Molotov – Ribbentrop, khởi đầu cho chiến tranh thế giới thứ hai (xem thêm link)
Năm 1988, Alexander Gorodnitsky sáng tác bài hát “Điệu valse năm 39” về sự kiện này. Dưới đây là bản dịch lời, clip bài hát cuối bài.
Alexander Gorodnitsky “Điệu valse năm 39” (1988)
Vàng của điện Kremlin rực sáng. Gió thảo nguyên thổi tới từ Volga. Bộ trưởng Ngoại giao Molotov của ta Tiếp đãi bạn bè từ Berlin đến. Bản đồ thế giới chúng ta cùng vẽ lại, Yến tiệc xa hoa và hầu cận đang chờ. Kìa nữ hoàng bale Ulanova đang nhận Từ tay Ribbentrop bó cúc đẹp khổng lồ.
Và người thợ Balan ở Lublin không hay biết Rằng sẽ không bao giờ còn được cắt và may Rằng gia đình anh sẽ bị diệt nay mai, Tất cả sẽ vào lò thiêu Quốc xã Và các sinh viên ở Tallinn không biết Cùng người làm vườn tóc bạc Litva, Rằng họ sẽ thối rữa theo lệnh Stalin Giữa đầm lầy Turukhansk lạnh giá.
Hiệp ước không xâm lược đã ký rồi – Đã đến lúc rượu vang đầy ly rót. Toàn bộ châu Âu ta chia chác xong rồi – Ngày mai sẽ chia phần Châu Á! Những vị khách nhìn Koba* e ngại. Trong tiếng dân hò reo sau bức tường thành. Lãnh tụ vĩ đại đang nâng lên ly rượu Uống mừng sức khỏe Quốc trưởng Đức nơi xa.
Phan Phương Đạt chuyển ngữ.
Koba = tên gọi của Stalin.
Trong bài hát còn có 2 câu lấy từ một bài hát cổ động năm 1939: “Nếu ngày mai có chiến tranh, nếu ngày mai lên đường hành quân / thì hãy sẵn sàng từ hôm nay”